<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096</id><updated>2011-09-03T18:34:41.377+07:00</updated><category term='Châm ngôn'/><category term='Triết học'/><category term='Phật giáo và tuổi trẻ'/><category term='Truyện ngắn'/><category term='Nghệ sĩ'/><category term='Vui cười'/><category term='Xã hội'/><category term='Phật giáo nước ngoài'/><category term='Giới thiệu'/><category term='Điện ảnh'/><category term='Cảm nhận'/><category term='Văn hóa'/><category term='Thơ'/><category term='Lời bài hát'/><category term='Nghệ thuật'/><category term='Hình ảnh'/><category term='Phật học'/><category term='Nhân vật'/><category term='Tâm lý'/><category term='Mỹ thuật'/><category term='Thời trang'/><category term='Sự kiện'/><category term='Lịch diễn'/><category term='Hôn nhân gia đình'/><category term='Du lịch'/><title type='text'>Văn nghệ Pháp Như</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>176</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-819203702713066195</id><published>2011-05-27T18:55:00.001+07:00</published><updated>2011-05-27T18:59:52.210+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Cảm nhận'/><title type='text'>Đôi nét cảm nhận về thơ của Bùi Giáng</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-U3guUu-fuZE/Td-SBi_BP-I/AAAAAAAAE2A/2KC7KFnr-h0/s1600/dncntbg1.jpg"&gt;&lt;img style="float:right; margin:0 0 10px 10px;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-U3guUu-fuZE/Td-SBi_BP-I/AAAAAAAAE2A/2KC7KFnr-h0/s320/dncntbg1.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5611364215995580386" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;Thích Pháp Như&lt;br /&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;DẪN NHẬP&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong nền thi ca của Việt Nam, có biết bao nhiêu nhà thơ nổi tiếng đã  để lại những tác phẩm kiệt xuất cho cuộc đời. Có những bài thơ đọc lên  nhẹ nhàng, thanh thoát, có những bài đọc lên thấy chua chát, đắng cay.  Trong thời hiện đại, xuất hiện một con người đa tài, ông không chỉ làm  thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận triết học mà còn viết rất  nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thơ, đó chính là Bùi  Giáng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đọc thơ Bùi Giáng thì phải đọc hết toàn bộ mới cảm nhận được hết cái  hay vì cuộc đời của ông là cả một bài thơ lớn. Mỗi bài thơ là một âm sắc  trong bản nhạc giao hưởng mà mỗi âm sắc đó có phản ánh một mặt của cuộc  đời ông. Người đọc không những đọc mà còn phải nghe và còn phải suy  ngẫm về nó rất nhiều có khi phải sống trong nó thì mới cảm nhận được hêt  những điều hay trong đó.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nguyễn Hữu Hồng Minh nhận định: “&lt;em&gt;Gọi Bùi Giáng là "người thơ" tôi  muốn xác tín hai điều: Bản chất thuần Việt của thi ca, tác phẩm ông và  tính cách dân dã, bụi bặm, gần gũi với quần chúng của ông. Trong lịch sử  thơ ca Việt Nam hiện đại chưa từng sản sinh ra một trường hợp nào lạ  lùng và độc đáo như vậy”. “Bùi Giáng, không chỉ là nhà thơ, mà đi xa  hơn, ông chính là hiện thân của một "đạo thơ", một "thi sĩ sinh ra giữa  cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gây cấn”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Dù đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình viết  và nhận định về văn thơ cũng như cuộc đời của Bùi Giáng, nhưng mỗi bài  viết chỉ là một góc cạnh nhỏ về ông cũng như tác phẩm của ông mà thôi.  Không ai có thể hiểu hết những tác phẩm của ông cũng như cuộc đời ông.  Những tác phẩm của ông khó hiểu giống như cuộc đời của ông vậy. Chẳng  biết ông là thi sĩ hay Bồ tát hóa than nữa mà có người gọi ông là “thi  sĩ Bồ Tát”. &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Thơ ông đa chiều cạnh, khó cảm nhận nhưng người đọc vẫn bắt gặp  được chính con người mình trong đó. Với kiến thức nông cạn, người viết  chỉ nêu lên &lt;/em&gt;&lt;em&gt;“Đôi nét cảm nhận về thơ của Bùi Giáng”&lt;/em&gt;&lt;em&gt;  qua những gì mà người viết cảm nhận. Tuy nhiên với giới hạn của bài  viết, người viết chỉ nêu ra một vài nét đặc trưng như cõi xuân, sự hư  thực và triết lý Phật giáo trong thơ của ông. Theo&lt;/em&gt; Thái Tú Hạp đã viết: “&lt;em&gt;Có  rất nhiều những nhà trí thức triết gia, giáo sư và những nhà thơ, văn  Việt Nam viết rất nhiều cõi văn chương tuyệt tác của thi sĩ Bùi Giáng,  đều những khám phá, tán dương, ca ngợi một cách chân tình, trung thực.”  Dù với bao nhiêu lời nhận định nào đi nữa ta vẫn thấy một điểm chung ở  mọi người là đã dành sự yêu mến cho con người siêu lãng tử lẫn thiên tài  độc đáo này. &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;NỘI DUNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1. ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ BÙI GIÁNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1.1. Tiểu sử Bùi Giáng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: &lt;em&gt;Trung  niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi,  Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ&lt;/em&gt;...Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ &lt;em&gt;Mưa nguồn&lt;/em&gt;.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cha ông là Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam.  Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiều.  Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiều, nhưng là  con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo  cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa. Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành chung.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử  tới Hà Tĩnh để tiếp tục học. Từ Quảng Nam phải đi bộ theo đường núi hơn  một tháng rưỡi, nhưng khi đến nơi, thì ông quyết định bỏ học để quay  ngược trở về quê, để đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương. Thi đỗ, ông vào  Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa. Tuy nhiên, theo T. Khuê thì &lt;em&gt;sau  khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy lại, ông quyết định chấm dứt  việc học và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học  tại các trường tư thục&lt;/em&gt; [1].&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1965, nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1969, ông "bắt đầu điên rực rỡ" (&lt;em&gt;chữ của Bùi Giáng&lt;/em&gt;). Sau đó, ông "lang thang du hành Lục tỉnh" (&lt;em&gt;chữ của Bui Giáng&lt;/em&gt;), trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn. Thi sĩ Bùi Giáng mất lúc 2 giờ  chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh  viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh, tức Sài Gòn cũ) sau những năm tháng  sống "điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang" (&lt;em&gt;chữ của Bùi Giáng&lt;/em&gt;).&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1.2. Những tác phẩm của Bùi Giáng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Bùi Giáng có (tạm phân theo thể loại):&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tập thơ:&lt;/em&gt; Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963), Màu hoa trên  ngàn (1963), Ngàn thu rớt hột (1963), Bài ca quần đảo (1963), Sa mạc  trường ca (1963), Mười hai con mắt (1964), Rong rêu (1972), Thơ vô tận  vui (1987), Mùa màng tháng tư (1987), Mùi Hương Xuân Sắc (1987), Đêm  ngắm trăng (1997), Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994), Thơ Bùi Giáng  (California, 1994)…&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Giảng luận:&lt;/em&gt; Giảng luận về Nguyễn Công Trứ, Giảng luận về  Cung oán ngâm khúc, Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về  Phan Bội Châu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ  Tường, Giảng luận về Phan Văn Trị, tất cả đều được xuất bản năm  1957-1959.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Triết học:&lt;/em&gt; Tư tưởng hiện đại (1962), Martin Heidgger và tư  tưởng hiện đại I và II (1963), Sao gọi là không có triết học Heidgger?  (1963), Dialoque (viết chung, 1965)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tạp văn:&lt;/em&gt; Các sách xuất bản năm 1969, có: Đi vào cõi thơ, Thi  ca tư tưởng, Sa mạc phát tiết, Trăng châu thổ, Mùa xuân trong thi ca,  Thúy Vân. Các sách xuất bản năm 1970, có: Biển Đông xe cát , Mùa thu  trong thi ca. Các sách xuất bản năm 1971, có: Ngày tháng ngao du, Đường  đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng Ba, Con đường ngã ba-Bước đi  của tư tưởng…&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Sách dịch:&lt;/em&gt; Các sách xuất bản năm 1966, có: Trăng Tỳ hải, Cõi  người ta, Khung cửa hẹp, Hoa ngõ hạnh, Othello. Các sách xuất bản năm  1967, có: Bạo chúa Caligula, Ngộ nhận, Kim kiếm điêu linh. Các sách xuất  bản năm 1968, có: Con đường phản kháng, Mùa hè sa mạc, Kẻ vô luân. Các  sách xuất bản năm 1969, có: Nhà sư vướng luỵ, Ophélia Hamlet, Hòa âm  điền dã. Các sách xuất bản năm 1973 và 1974, có: Hoàng tử Bé (1973), Mùa  xuân hương sắc (1974)... Hiện nay, nhiều tác phẩm của ông đã và đang  được tái bản và xuất bản trong và ngoài nước.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2. ĐÔI NÉT CẢM NHẬN VỀ THƠ CỦA BÙI GIÁNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2.1. Cõi xuân trong thơ Bùi Giáng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Những tác phẩm của Bùi Giáng rất nhiều nhưng nỗi bật nhất là tập thơ  Mưa nguồn và những hình ảnh mùa xuân trong thơ ông. Người đọc như lạc  vào vườn xuân với những nét xuân khác nhau theo từng cung bật cảm xúc  của tác giả. Đó là cõi riêng của ông và cũng là niềm tin của ông. Ông  tin tưởng vào muà xuân vì đó là một mùa đẹp nhất trong một năm và mùa  xuân cũng là mùa hạnh phúc. Mùa xuân trong thơ ông đối với thời gian là  vô cùng và không gian là vô tận.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại  vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích”.&lt;/em&gt; &lt;em&gt;(Bờ xuân,&lt;/em&gt; &lt;em&gt;Mưa nguồn&lt;/em&gt;, tr.38-39)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ông sử dụng nhiều điệp ngữ &lt;em&gt;“xuân”&lt;/em&gt; &lt;em&gt;“xuân bữa trước, xuân bữa sau, xuân bốn bên”&lt;/em&gt;.  Dụng ý ở đây muốn nói lên một mùa xuân miên viễn, lòng ông lúc nào cũng  tràn ngập mùa xuân. Dù trong vòng chu kỳ của một năm chỉ có ba tháng  mùa xuân, xuân đi rồi xuân sẽ trở lại, nhưng mấy ai cảm nhận được xuân  từng “bữa” như ông. Phải chăng ông xem xuân giống như những “bữa ăn” cho  nên ông tận hưởng được mùa xuân ấy trong từng “bữa” đó là thời gian,  còn không gian là “xuân bốn bên” nghĩa là nơi nào cũng có mùa xuân cả.  So với xuân của chu kỳ trời đất, xuân của Bùi Giáng hiện hữu trong giờ  phút hiện tại và vây hãm, tấn công nhưng nó lại mang đến cho ông một  hạnh phúc.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngôn từ rất Bùi Giáng, mấy ai nói xuân &lt;em&gt;“vây hãm tấn công”&lt;/em&gt;  bao giờ. Chỉ có Bùi Giáng mới thế, ông có “điên” trong ngôn ngữ hay  không điều đó không biết nữa. Chỉ có ông mới hiểu nỗi cái ngôn ngữ của  ông. Dù không biết ông có “điên” hay không nhưng nếu tinh ý ta vẫn thấy  ông &lt;em&gt;“hạnh phúc”&lt;/em&gt; trong mùa xuân mà ông cảm nhận. Khác với mùa  xuân của trời đất theo chu kỳ ba tháng trong một năm, còn xuân của ông  là từng “bữa” cái “bữa” đó ông đã thưởng thức nó trong niềm hạnh phúc  thẩm sâu vào trong tận hồn ông, mà nói rõ hơn là cảm nhận bằng “Tâm”.  Giống như những  câu thơ trong bài thơ Nguyên Đán của nhà thơ Xuân Diệu:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Xuân của đất trời nay mới đến&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trong tôi xuân đến đã lâu rồi&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Không những ông tận hưởng mùa xuân trong cả không gian và thời gian  mà còn tin vào một mùa xuân miên viễn như tin một cánh én sẽ báo tin một  mùa xuân đang về. Hình ảnh chim én bay, báo hiệu mùa xuân cho nhân  loại. Đây là một niềm vui chung chứ chẳng phải riêng một mình ông. Khi  chim én về báo hiệu mùa xuân đến, xua tan đi mùa đông đầy băng tuyết giá  lạnh để cho những cây khô nẩy lộc đâm chồi:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Én đầu xuân tuyết đầu đông&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa.&lt;/em&gt;(&lt;em&gt;Mưa nguồn&lt;/em&gt;, tr.62)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ông đồng cảm nghĩ với nhạc sĩ Văn Cao, trong ca khúc Xuân đầu tiên của Văn Cao có đoạn: &lt;em&gt;“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về…”&lt;/em&gt;  Xuân đến lòng người ai lại chẳng vui, ai chẳng nao nức, ai chẳng muốn  gặp lại cố nhân, những người đã xa vắng từ bao giờ. Xuân về cho lòng  người một cảm giác ấm cúng, thân thương, khó tả:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mùa xuân hẹn thu về em trở lại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Với dòng trong em hẹn ở bên đường&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mùa xuân hẹn thu về em trở lại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bên đời đi còn giữ mãi hay không&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="padding-left: 90px; text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng. &lt;/em&gt;&lt;em&gt;(Về cố quận, Mưa nguồn&lt;/em&gt;, tr.61)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Những câu thơ của ông thật lạ, không giống như những mùa xuân của  thiên hạ hay tả là mùa xuân có bướm có hoa. Mùa xuân của Bùi Giáng là  “hạnh phúc” mà hạnh phúc của ông chỉ trong những câu nói bỏ lững, chính  vì vậy ta mới thấy ông cảm nhận ở “Tâm: &lt;em&gt;“Thuở xưa kia…bờ nước ấy xưa kia”&lt;/em&gt; Câu thơ không mang một nội dung gì cả, &lt;em&gt;“thuở xưa kia”&lt;/em&gt; là thuở nào, xưa là từ bao giờ, &lt;em&gt;“bờ nước ấy”&lt;/em&gt; là bờ nào, rồi lại nhắc thêm một lần &lt;em&gt;“xưa kia”&lt;/em&gt;  nữa. Phải chăng mùa xuân của ông là một sự hoài niệm, khắc khoải, chờ  đợi, hay là mơ ước cho một mùa xuân đẹp sẽ đến khi ông khát khao một  nàng thơ nào đó sẽ trở về. Nhưng dù thế nào thì ông cũng cảm nhận được  hạnh phúc trong mùa xuân của mình. Ông đã sớm linh cảm rằng cuộc đời của  ông chỉ xoay vòng trong một tọa độ mà tọa độ đó được xác đinh bởi không  gian “Cố quận” và thời gian “Nguyên xuân” đễ đến nổi ông phải thối lên  rằng:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Chợt có lúc hai chân dừng một lượt&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này. &lt;/em&gt;(&lt;em&gt;Chỗ này, Mưa nguồn,&lt;/em&gt; tr.82)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Mùa xuân trong thơ ông có lúc đã rất vui, rất hạnh phúc, nhưng cũng lại có mùa xuân đau đớn, tái tê thể hiện qua câu: &lt;em&gt;“Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay”&lt;/em&gt;.  Cỏ đẹp thế, mùa xuân đẹp thế nhưng bị giẫm nát lúc nào không hay biết.  Phải chăng ông đã rất đau đớn một điều gì đó, tâm hồn ông đã giằn xé hay  xót xa cho kiếp cỏ cây hay cho thân phận con người. Với ý nghĩ này  Trịnh Công Sơn cũng xót xa cho thân phận của &lt;em&gt;“cỏ”&lt;/em&gt;  qua ca khúc Cỏ xót xa đưa:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Trên đời người trổ nhánh hoang vu&lt;br /&gt;Trên ngày đi mọc cánh lá mù&lt;br /&gt;Những tim đời đập lời hoang phế&lt;br /&gt;Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê&lt;br /&gt;Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ&lt;br /&gt;Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;“Cỏ” trong thơ của Bùi Giáng cũng như trong nhạc của Trịnh Công Sơn  đều đau đớn như nhau. Cỏ như thân phận kiếp người cũng bị con người chà  đạp, cỏ cũng biết xót xa biết tủi nhục, biết tái tê, biết rơi lệ. Như  vậy, mùa xuân trong câu thơ này của Bùi Giáng cũng u buồn, chứ đâu phải  mùa xuân trong câu thơ nào của ông cũng vui.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;(…) Người viết mãi một màu xanh cho cỏ&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…&lt;/em&gt;(&lt;em&gt;Bài ca Quần Đảo,&lt;/em&gt; tr.22-23)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Với thơ ông, mùa xuân của đất trời hay xuân trong lòng thì cũng có  lúc xuân buồn, cũng có lúc xuân vui, có lúc xuân hạnh phúc nhưng cũng có  lúc xuân xót xa. Có những mùa xuân đã qua đi không bao giờ trở lại  nhưng cũng có những mùa xuân ở mãi trong lòng ông. Rồi suốt một đời, ông  đã ấp ủ một mùa xuân và ông vẽ cho chính mình một chân dung chân dung  duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ &lt;/em&gt;(&lt;em&gt;Bài ca Quần Đảo&lt;/em&gt;, tr.11)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Không biết năm mười sáu tuổi đã xảy ra biến cố gì trong cuộc đời ông  mà bến xuân trong ông đã chìm tắt? Điều đó cũng chẳng ai biết, chỉ biết  là ông làm thơ từ dạo ấy, khoảng vào năm 1942, tại Huế, như theo lời kể  của ông trong đầu sách Lời Cố Quận.[2]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đọc thơ ông người đọc như lạc vòa một cánh rừng u tịch, không biết  lối ra, không định hình được hướng, Người đọc choáng ngợp với từ từ,  từng ngữ, từng câu thơ ông. Họ say sưa, họ suy nghĩ, … nhưng không thể  hiểu hết những gì ông viết trong thơ. Trong khi họ còn đang đắm mình với  cỏ cây hoa lá trong mùa xuân của ông thì bất chợt đâu đây lại nghe một  lời chào như hư như thực: &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Xin chào nhau giữa con đường&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.”(Chào Nguyên Xuân)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ủa! quen hay lạ mà chào nhau thế? Phải chăng trong từ vô thỉ mọi  người đã quen nhau? Thôi thì thôi cũng xin chào nhau vì tất cả mọi người  cùng đi trên một lộ trình cơ mà. Kiếp người đã là một lộ trình dài vô  tận, trên lộ trình đó thi thoảng con người đã gặp nhau rồi. Trong luân  hồi sanh tử ấy nếu có duyên. Vậy thì hãy cứ chào nhau đi, cứ vui đi như  tận hưởng những mùa xuân vậy. Niềm khát khao nhất một kiếp người không  phải là đi tìm hạnh phúc đó sao? Vậy thì xin cứ xem nhau như những người  quen để còn được thấy nhau, được chào nhau. Hôm nay còn gặp thì hãy cứ  chào đi, cứ vui đi như xuân đang về vậy, và hãy để cho mùa xuân ấy miên  trường ở phía sau, có nghĩa là còn vui trong vạn ngày tới nữa. Hãy bỏ  qua những đau thương mất mác trong cuộc đời để đi tìm một bến bờ hạnh  phúc. Hãy cảm nhận nó trong từng bước chân và đừng nói thêm gì nữa: &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Thưa rằng nói nữa là sai&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa Xuân đang đợi bước ai đi vào&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hỏi rằng: đất trích chiêm bao&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau.(Chào Nguyên Xuân)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;            Mùa xuân trong thơ Bui Giáng còn ở bước chân của ai  nữa kia. Xuân cũng có thể theo người mà về chứ chẳng cần có chim én.  Phải chăng là mùa xuân của tâm hồn khi tâm hồn tràn ngập niềm vui thì  một bước chân nhè nhẹ cũng là một hạnh phúc. Nhưng sao trong những câu  thơ này Bùi Giáng tự hỏi rồi lại tự trả lời. Ông có cô đơn không? Có lẽ  tâm trạng ông vừa hạnh phúc vừa cô đơn chăng? Chính vì cô đơn nên ông  mới độc thoại với chính mình. Có khi ông rất mơ hồ, rất triết lý nhưng  có khi ông lại rất thực tại:  &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Thưa rằng: ly biệt mai sau&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;            Không chỉ có vậy, những câu thơ về mùa xuân của ông  có cái gì đó ngộ ngộ mà xưa nay chưa có một ai nghĩ ra dù nó chỉ là  những hiện tượng bình thường của cuộc sống: &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Xuân về xuân lại xuân đi&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Đi là đi biệt từ khi chưa về” &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo Đặng Tiến nhận xét: &lt;em&gt;“Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm  sâu. Vớ vẩn mà thần sầu. Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa  lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa. Thần sầu ở chỗ: không mấy ai  thấy cái chốn thâm sâu.” &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo Nhất Thanh nhận định: đây là &lt;em&gt;“Một bài thơ Xuân lạ lùng!  Người làm thơ cứ như nhảy chân sáo trong thơ. Rất bông đùa, hóm hỉnh mà  lại triết lý đến không ngờ. Qua tới đi về, cứ như mùa Xuân đang lượn lờ  trước mắt chúng ta. Thế mà nó đã đi, đi biệt khi tất cả chúng ta chưa  kịp thấy nó về. Hay nói cách khác, mùa Xuân vẫn mãi đi về giữa đất trời  lớn rộng, trong khi lòng người quá nhiều bận rộn nên chưa kịp thấy hết  nhịp điệu đến đi phiêu bồng của một cõi Nguyên Xuân.”&lt;strong&gt;[3]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nói theo chu kỳ của vũ trụ thì xuân đến thì xuân phải về, dù cho con  người có mong đợi hay không. Khi xuân đến có bảo xuân đừng đến cũng  không được mà khi xuân đi có nắm giữ xuân lại thì cũng không thể. Hai  câu thơ của Bùi Giáng nói lên chu kỳ của trời đất rất bình thường thôi  nhưng nghe lại không bình thường. Có cái gì đó hay hay, lạ lạ, không  dùng ngôn ngữ bay bướm, phóng đại gì cả, tuy rất đời thường nhưng lại  rất khác thường. Có cái gì đó rất hay theo kiểu của Bùi Giáng mà ta  không thể nói nên lời.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo nhận định của người viết: &lt;em&gt;“Nếu nói Trịnh Công Sơn là “phù thủy về ca từ trong âm nhạc” thì Bùi Giáng là “kẻ điên về từ ngữ trong văn chương”&lt;/em&gt; điều đó không ngoa chút nào. Còn Đặng Tiến cũng khẳng định: &lt;em&gt;“Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một. &lt;strong&gt;[4]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt; 2.2. Triết lý Phật giáo trong thơ Bùi Giáng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đọc thơ của Bùi Giáng không những ta thấy được nét xuân mà còn thấy  đầy triết lý của Phật giáo. Giống như Trịnh Công Sơn những ca từ trong  ca khúc Trịnh thấm đượm tinh thần Phật giáo thì từ ngữ trong thơ của Bùi  Giáng cũng mang nhiều hơi hướng của Đạo Phật. Nhiều người cho rằng “ông  điên” nhưng hình như “ông điên để được tỉnh”, tỉnh trong thơ và tỉnh  trong cả cuộc sống. Điên mà ông nhận chân được cuộc sống này là “hư vô”  là không thật, là hữu hạn:  &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Cũng vô lý như lần kia dưới lá&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh. (Hư vô và vĩnh viễn)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;       Mấy ai trong cuộc đời này hiểu được cuộc sống là “vô  thường” biến đổi không ngừng nghỉ. Có lẽ ông cảm nhận điều này nên ông  đã làm một kẻ lữ hành rong chơi suốt cả một đời không vướng víu&lt;/em&gt;.  Ông giống như một gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa cứ mãi lang thang cả  một đời đến khi sực tỉnh lại thì mới nhận chân ra được “đời chỉ là cõi  tạm”, chỉ là “quán trọ trần gian” thôi, có gì đâu mà vui. Cõi tạm thì vô  thường mà quán trọ chỉ là chỗ nghỉ chân. Cõi tạm này chẳng biết bắt đầu  từ khi nào và kết thúc từ bao giờ. Nhưng có điều mà ông biết được đó là  cái chết. Cái chết là điều gì đó thương tâm của kiếp người mà không ai  tránh khỏi, cũng như kiếp hoa rồi cũng sẽ úa tàn:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Lỡ từ lạc bước bước ra&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng.” &lt;/em&gt;(&lt;em&gt;Chớp biển&lt;/em&gt;, tr.45)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nếu gọi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ của &lt;em&gt;“Tình yêu và thân phận”&lt;/em&gt; mà trong đó yếu tố thân phận là yếu tố đã làm cho Trịnh Công Sơn trở nên bất hữu thì Bùi Giáng cũng có thể gọi là thi sĩ của &lt;em&gt;“Tình yêu và thân phận”&lt;/em&gt;. Trong “cái thân phân” đó con người đã gặp nhau, đã vui sướng, đã đau khổ, đã dằn vặt, đã cấu xé lẫn nhau:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Anh cứ tưởng đầu đường thương xó chợ&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hai câu thơ này chẳng biết chính xác là như thế nào mà lại có câu thơ dị bản khác:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Cứ tưởng đầu đường thương xó chợ&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Nào ngờ xó chợ cũng chơi nhau.” &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Dù có dị bản đi chăng nữa, ta vẫn thấy được nó chứa đựng một triết lý  rất Phật giáo mà lại “rất Bùi Giáng. Theo quan niệm của đạo Phật, cuộc  sống của một kiếp người là đau khổ. Sự khốn khổ cùng cực với sinh lão  bệnh tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc… Bùi Giáng hiểu điều này,  chính vì vậy mà ông đã sử dụng vào thơ của mình với hình ảnh “đầu  đường” “xó chợ”, “đầu đường” “xó chợ” ở đây không phải là những người  bần cùng theo phương diện xã hội mà ông muốn nói trên phương diện nỗi  khốn cùng của kiếp người. Nhưng dù có là những kẻ “đầu đường” “xó chợ”  đi chăng nữa thì phải biết thương nhau chứ. Kiếp người vốn dĩ đã chịu  nhiều đau khổ của luật vô thường, của nhân quả nghiệp báo rồi, tại sao  con người còn phải gây thêm những đau khổ cho nhau nữa. Cũng phân thận  “đầu đường” “xó chợ” cả thôi, thì có gì sung sướng, có gì vinh quang đâu  mà lại “chơi” nhau.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong xã hội người khốn khổ về vật chất nhất là những kẻ “đầu đường”  “xó chợ” thì với triết lý của nhà Phật con người chỉ là một “gã cùng tử”  không hơn không kém. “Gã cùng tử” chỉ biết rong chơi, lang thang đây  đó, cho đến một lúc nào đó:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;“&lt;em&gt;Biển dâu sực tỉnh giang hà&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.(Áo xanh) &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;thì mới nhớ đến quê nhà. Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường,  biến hoại, không hằng hữu, chỉ có quê nhà mới là nơi êm ấm, là chốn  bình yên. Mỗi con người ai không có một quê hương, một chốn để về. Lang  thang suốt một đời rồi mới:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Là quê thân thiết biết bao chừng (Người về)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ông nhận chân ra được quê nhà ấy ở trong lòng, nghĩ là sự cảm  nhận của tâm. Chỉ có “chân tâm” mới là quê nhà thật sự. Chỉ có hạnh phúc  thật sự là ở mãi trong tâm: &lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Lòng chim gieo sáng dệt vân sa&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trên bước đường xuân trở lại nhà&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mở sách chép rằng: vui một sáng&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta (Áo xuân, 1942) &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Phải chăng Bùi Giáng muốn trở về với “chân tâm” của mình hay là khéo  nhắc mọi người đừng đi tìm chân hạnh phúc ở đâu xa mà chính là ở tâm  mình. Ông đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo và trong thơ  ông. Ngôn từ tuy có khác nhưng ý nghĩa thì tương đồng, thế mới nói chân  lý chỉ có một nhưng phương tiện là rất nhiều. Trở lại quê nhà ở đây  không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và  giá trị của hạnh phúc này phải đánh đổi bằng bao nhiêu năm lang thang  nơi xứ lạ quê người.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: &lt;em&gt;“Nhất thiết duy tâm tạo”. &lt;/em&gt;Trước  Bùi Giáng,  Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói về “Tâm”  khi khẳng định về thân phận của kiếp người qua hình ảnh của nàng Kiều: &lt;em&gt;“Thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”&lt;/em&gt;.  Trịnh Công Sơn cũng có một câu trong ca khúc Để gió cuốn đi đã trở  thành một câu dường như là bất tử: “Sống trong đời sống cần có một tấm  lòng”. Tấm lòng đó là “Tâm”, nếu sống mà không có “Tâm” thì cuộc sống  trở nên vô nghĩa. “Tâm” của Bùi Giáng có lúc lang thang, có lúc ngỡ  ngàng, có lúc hiu quạnh, lúc có niềm vui… nói chung là trái tim ông cũng  xao động theo mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Đường đi ngõ quạnh lang thang,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trái tim mỗi mỗi mỗi ngày,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mỗi giờ phút đọng mây trời rung rinh”.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Điều này ứng với giáo lý của nhà Phật là: “Tâm viên, ý mã” (Tâm như  con vượn truyền cành, ý như con ngựa chạy rong trên đường.) Bùi Giáng  hiểu được điều này, chính vì vậy mà ông muốn “trở về cố quận” để tìm lại  cõi “nguyên xuân” của kiếp người. Cõi “nguyên xuân” đó chính là quay về  với tự thân của cuộc sống đời thường mà bấy lâu nay con người ta bỏ  quen. Cứ tưởng hạnh phúc nằm ở đâu xa xôi lắm con người cứ mãi khát khao  đi tìm, đâu có ngờ hạnh phúc nằm ở những điều giản dị nhất của cuộc  sống. &lt;em&gt;“Hạnh phúc đâu chỉ là những nụ cười mà con tô điểm thêm bằng  những giọt nước mắt. Hạnh phúc đâu chỉ là ánh mặt trời ấm áp mà còn là  vầng trăng lạnh lẽo đêm thâu.”&lt;strong&gt;[5]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;. Bùi Giáng đã  nhận chân ra được hạnh phúc nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen  không danh lợi. Ông tìm vui trong những gì đơn sơ nhất, giản dị nhất mà  mỗi người ai cũng có thể tìm được: &lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Mỗi sáng tôi nhìn mặt trời mọc trong mây,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Mỗi chiều tôi nhìn mặt trời lặn trong mây,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Suốt ngày tôi lắng tai nghe tiếng chim hót trong lá cây reo,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Và nhìn thấy rất nhiều mùa xuân mênh mông đang đi tới”.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;(Nhìn thấy – “Đêm ngắm trăng” tr.27)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;           Ông tận hưởng cuộc sống với mỗi sáng sớm được  còn nhìn thấy mặt trời mọc trong mây, mỗi chiều cũng được thấy mặt trời  lặng trong mây, và lđược lắng nghe tiếng chim hót trong khoảng trời mênh  mông vô tận. Cuộc sống tấp nập hối hả đã làm cho con người mãi chạy  theo vật chất, với công việc, những mối quan hệ xã hội chằn chịt, những  lo toan vây hãm, đâu có ai có thời gian để tận hưởng cuộc sống, dù chỉ  là được nhìn cảnh bình minh và hoàng hôn. Cuộc sống rất ngắn ngủi, sang  còn tối mất như cánh phù dung sớm nở tối tàn. Cái chết chẳng đợi ai nên  đừng truy tìm hay ước vọng về quá khứ và tương lai mà cứ an trú trong  phút giây hiện tại để thấy mình còn hiện hữu trên cõi đời này. Trong  kinh Người biết sống một Đức Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;“&lt;em&gt;Quá khứ không truy tìm&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tương lai không ước vọng.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Quá khứ đã đoạn tận,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tương lai lại chưa đến,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Chỉ có pháp hiện tại&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tuệ quán chính ở đây.”&lt;strong&gt;[6]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Chỉ có giờ phút hiện đại mới tìm thấy được hạnh phúc mà hạnh phúc đó  là trạng thái của Niết Bàn. Niết Bàn hiện hữu trong từng hơi thở, trong  từng thớ thịt của mạch sống chứ đâu phải ở đâu xa xôi. Niết bàn là sự  hiện hữu của cái nhìn, cái thấy trong giây phút hiện tại khi tâm tỉnh  giác. Tỉnh giác với tự thân và tỉnh giác ở cảnh vật mà ở đây trong thơ  ông là tỉnh giác với thiên nhiên qua ánh nắng của mặt trời. Chỉ bao  nhiêu đó thôi là đã đủ giàu có, thế mà tại sao con người vẫn mãi lang  thang làm gả cùng tử, đến lúc nào đó gã cùng tử muốn quay trở về cố  quận, dù đường về có quá xa xôi. Trịnh Công Sơn cũng nói:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Đường xa mỏng mộng vô thường&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trái tim chợt tỉnh tôi nhừng nhịn tôi.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Lang thang suốt một độ luân hồi rồi cũng may là có lúc tỉnh ra, có  người suốt đời cũng đâu hiểu cuộc đời chỉ là giác mộng vô thường. Dẫu  biết rằng con người không biết sinh ra từ đâu, nghĩa là cội nguồn hay  quê hương là ở đâu, vì thế mà Bùi Giáng đã tự hỏi:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Hỏi rằng người ở quê đâu&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”.&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;hay :&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Từ đâu ngươi đến? – Từ đây ta về”.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cuộc hành trình về cố quận của Bùi Giáng quả thật là dài, nhưng đâu  đó ông cũng đã gặp được những triết lý của Phật giáo để rồi từ đó ông  đem nó vào trong thơ ca của ông, nó trở thành chất liệu sống của ông  theo từng năm tháng. Những tháng ngày một mình trên lộ trình của cuộc  sống thông qua những câu thơ bình dị mà trác tuyệt là cả một tâm hồn  siêu thoát. Cho nên có người còn gọi ông là “vị Bồ tát của văn chương”.  Đúng vậy, ông đã từ bỏ một cái ràng buột, &lt;em&gt;“ồn ào của cuộc sống để thong dong bước vào đạo&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”.&lt;strong&gt;[7]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;  Đó là hạnh nguyện hay chỉ là một sự ngẫu nhiên của cuộc đời ông hoặc là  cái nghiệp văn chương của ông phải như thế. Dù sao đi nữa thơ ông cũng  mang đầy tâm trạng, mang đầy màu sắc mà màu sắc Phật giáo là một kho  tàng vô giá mà ông đã may mắn bắt gặp được. Âu đó cũng là một phần  thưởng của hạnh phúc đã dành cho ông và từ đó ông đem ban tặng đến tất  cả mọi người qua những vần thơ tuyệt tác.&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2.3. Nét hư thực trong thơ Bùi Giáng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Có người cho rằng Bùi Giáng “điên” nhưng hình như ông chỉ “điên trong  thơ” mà thôi. Cái điên đó thể hiện ở nét hư thực trong ngôn từ và nội  dung của ông. Thơ của ông dung dị mà sâu sắc, đơn giản mà tài hoa, bong  đùa mà nghiêm túc, khoáng đảng mà khắc,  như vậy đâu thể nói Bùi Giáng  là một “người điên”, thơ ông hay là thế. Những câu thơ trong thơ ông có  thể bỏ lững, có thể không lý do nhưng ta vẫn có thể cảm nhận nó theo tâm  trạng của mỗi người. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng không ai có thể  hiểu hết thơ ông. Và cho đến chính bản thân ông cũng không thể hiểu nổi  ông kia mà:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Xưa kia tôi đã có lần&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Và bây giờ đã đôi phần tôi quên. &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;(&lt;em&gt;Ca dao, Mưa nguồn&lt;/em&gt;, tr.143)&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ông không cho biết ông quên gì, nhớ gì, vì ông cũng không biết ông đã  làm gì để mà nhớ. Có đôi khi con người ta “tưởng rằng đã quên” nhưng sự  thật có quên đâu bao giờ, không những không quên chút nào mà nổi nhớ ấy  lại được cất giữ ở một góc khuất trong tâm hồn mà thôi. Bùi Giáng cũng  vậy, cái ông quên là những gì ông có thể quên vì không ai nhớ hết tất cả  mọi điều. Cuộc sống còn có những điều quan trọng hơn cần phải nhớ và  cần phải nghĩ. Cũng rất “may” là ông đã quên chứ  không ông còn có nhiều  câu thơ hay hơn thế nữa. Câu thơ đọc lên rất bình thường nhưng lại  không bình thường. Chính vì thế mà người đời mới bảo ông “điên”.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Những câu thơ của ông vừa hư vực, hư ở đây là nó thực đến nỗi mà hóa  “hư” còn “thực” ở đây là hư đến nỗi mà hóa “thực”. Có những thứ mà chẳng  ai đem nó vào thơ nhưng hình ảnh “đầu đường” và “xó chợ” vậy mà ông lại  đem vào thơ không những thế mà lại hay nữa chứ. Có những dụng cụ tầm  thường trong cuộc sống chẳng đưa nó vào thơ vậy mà qua ngòi bút của ông  những thứ đó lại trở nên sống động hư thực:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Bằng bút chì đen&lt;br /&gt;Tôi chép bài thơ&lt;br /&gt;Trên tường vôi trắng&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bằng bút chì trắng&lt;br /&gt;Tôi chép bài thơ&lt;br /&gt;Trên lá lục hồng&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bằng cục than hồng&lt;br /&gt;Tôi đốt bài thơ&lt;br /&gt;Từng phút từng giờ&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tôi cười tôi khóc bâng quơ&lt;br /&gt;Người nghe cười khóc có ngờ chi không?” &lt;strong&gt;(&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;Bao giờ)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bằng những vật dụng có trong cuộc sống hàng ngày mà ít ai để ý đến  giá trị của nó như: “bút chì”, “tường vôi”, “cục than” vậy mà ông đã đem  vào thơ của mình. Nhìn ở ngoài chúng bình thường thế mà vô trong thơ  ông nó trở nên có hồn, có cảm xúc tạo nên những câu thơ sống động. Những  câu thơ rất thực nhưng không ai ngờ đến nỗi nó quá thực đến như vậy,  chính vì nó quá thực nên nó đã trở thành “hư”&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Người nằm ngủ thấy gì,&lt;/em&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thấy rất nhiều nắng lạ,&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Những chùm bông rất xanh,&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Có lẽ bông là lá.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Người nằm ngủ thấy gì,&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Chẳng thấy gì hết cả.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ngài thử nằm ngủ đi,&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đừng hỏi gì hết cả”.&lt;/em&gt; (Có lẽ – “Mưa nguồn…” tr. 359)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;Đọc thơ của ông đôi khi ta bắt gặp những điều rất mâu  thuẫn. Có khi ông nói thấy có khi lại nói không, vậy cuối cùng là như  thế nào? Chỉ có người sống trong cuộc mới biết chứ có diễn tả ra cũng  không ai hiểu được. Những hình ảnh nắng, lá, bông trong giấc mơ có khi  thấy có khi lại không thấy, không thấy không có nghĩa là không thấy mà  thấy không có gì. Bùi Giáng đã hư thực trong giấc mơ như hư thực trong  chính những câu thơ của ông. Đây không phải là lời nói xuông mà chỉ có  ai sống trong giấc mơ đó mới cảm nhận được. Giấc mơ thì là có thật nhưng  những điều diễn ra trong giấc mơ lại là hư ảo. Bùi Giáng cảm nhận được  điều này muốn đem kể lại cho mọi người ông nghĩ mọi người sẽ không cảm  nhận được nó. Nếu ai muốn hiểu được những giấc mơ đó thì phải tự mình đi  vào giấc mơ đó và sống với nó thì mới hiểu được. Sự cảm nhận của mỗi  người là khác nhau khi mỗi sự vật hiện tượng đều có nguyên lý của nó.  Giống như viên kim cương có nhiều mặt con người không thể nhìn một lúc  tất cả các mặt của nó. Nếu chỉ nhìn phiến diện thì không thể nhận xét  đúng về nó, chính vì vậy mà phải nhìn toàn thể thì mới đáng quá được.  Nhưng chưa chắc gì khi nhìn tổng thể lại đánh giá đúng về nó.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự hy thực trong thơ ông làm cho sự tư duy của người đọc thêm phong  phú, tùy theo sự cảm nhận của mỗi người, ông không bắt buột ai phải có  suy nghĩ như ông. Phải chăng nó hư thực quá mà người ta cho rằng ông  “điên”. Nhưng “điên” mà có những tác phẩm hay đến siêu lòng thì cũng nên  “điên” lắm chứ. Chỉ sợ tỉnh mà không thể làm được điều gì thì tỉnh cũng  chẳng để tỉnh làm gì cả. Phải nói rằng Bùi Giáng là ông Tiên thì đúng  hơn vì ông đã sử dụng chiếc đủa thần tư tưởng của mình gõ vào những con  chữ để cho chúng tự nhảy múa chứ ông không hề điều khiển chúng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3. NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA BÙI GIÁNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bùi Giáng không chỉ làm thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận  triết học, Bùi Giáng còn viết rất nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy  bút về thơ. Nếu ai đã từng đọc nhữn tác phẩm của ông sẽ thấy đằng sau  những ngôn từ đó là một tâm hồn mênh mang huyền diệu, những cung bậc cảm  xúc của một con người đa tài. Khác với những tác giả khác chỉ thiên về  một lĩnh vực văn hoặc thơ hay tùy bút còn Bùi Giáng thì viết nhiều thể  loại nhưng thể loại nào cũng hay cả.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngôn từ trong thơ ông đa dạng, nhiều ẩn ý, nhiều hình tượng và đặc  biệt là mang đầy triết lý phương Đông mà nổi bật nhất là triết lý Phật  giáo. Đọc thơ ông người đọc như lạc vào một khu rừng của từ ngữ, trong  đó những con chữ thi nhau nhảy múa, hát ca. Ngôn ngữ đó, Bùi Giáng đã  đưa kinh Phật về với những gì dung dị nhất mà người đọc vẫn có thể cảm  nhận nó qua những cảnh vật, những vật dụng, hoặc thiên nhiên như hoa lá  cỏ cây. Mùa xuân trong thơ của ông có khi buồn, khi vui, khi hạnh phúc,  khi xót xa.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Những câu từ vừa siêu nhiên, vừa trần tục, vừa ngây ngô, vừa điên dại  đã làm cho người đọc như lạc vào cõi ba đào tuý luý tình mộng đổ xiêu  của mình.  Cõi thơ Bùi Giáng mang bóng dáng của huyền thoại nữa hư nữa  thật. Nhưng dù sao đi nữa phải công nhận một điều thơ ông hay mà lạ,  không lẫn lộn với thơ của bất cứ ai. Chính vì vậy mà ta có thể gọi là  độc đáo ‘rất Bùi Giáng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Có thể nói Bùi Giáng là một thi sĩ kỳ lạ mà có người đã mệnh danh ông  là “thi sĩ Bồ Tát”, vì ông đã cống hiến cả đời mình cho văn chương. Sự  cống hiến không mệt mỏi cho đến cuối đời. Ông hào phóng với cuộc đời và  ban tặng những gì tin túy nhất trong tư tưởng của ông để có những tác  phẩm dâng đời. Xét về cuộc sống của ông có cái gì đó rất bình dị không  hoa hòe, không phô trương, không chấp trước. Chính vì thế mà ông trở nên  khác người đến nổi người đời còn cho là ông điên. Nhưng thực ra ông  sống tùy duyên không vướng bận, ông muốn thoát ra khỏi những vật chất  bám víu với những cái cảnh nhà cao, cửa rộng mà lại trở về với thế giới  nguyên sơ để không phải lụy phiền.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;Bùi Giáng một mình đi trên con đường thênh thang trong cả  cuộc sống và trong cả văn chương, nhưng trên bước độc hành đó ông đã bắt  gặp những tâm hồn đồng điệu như Nguyễn Du, Trịnh Công Sơn và đặc biệt  là bắt gặp cả một kho tàng giáo lý của nhà Phật thì đó quả thật là một  điều hạnh phúc. Ông bắt gặp được một nguồn hạnh phúc, một niềm vui thật  sự để từ đó bước vào cõi nguyên sơ và sống với nó qua những vần thơ bình  lặng. &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thơ ông vừa lãng mạn, tinh nghịch, lại vừa hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Có  những bài thơ vừa độc thoại và vấn đáp xoay quanh tình yêu và thân phận,  lẽ sinh tồn trong cuộc sống bể dâu đầy khắc nghiệt. Ông yêu cuộc đời  nên không muốn cuộc đời tổn thương, ông thương con người nên không muốn  than phận kiếp người phải đau khổ, nên thơ ông như ẩn chứa những tâm  trạng khắc khoải hoài vong. Thơ ông vừa cổ kính vừa hiện đại, &lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;có  màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con  người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu...&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt; [8]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bùi Giáng đã bắt gặp hình ảnh của chính mình ở trong thơ, và tấm bi  kịch đó ông đã vẽ nên những bức tranh có khi vui tươi, có khi ảm đạm, có  khi có nghĩa và có lúc cũng trở trên sáo rỗng. Chính vì vậy mà ông đã  rất “ngông” không những ở trong thơ mà luôn cả với đời sống hiện thực  của ông. Người viết xin mượn lời của T.Khuê nhận định để thay lời kết: “&lt;em&gt;D&lt;/em&gt;&lt;em&gt;ù  sao chăng nữa, ông cũng đã tạo được một mẫu ngông thời đại, sáng tạo  một kiểu say sưa, chán đời của thế kỷ 20, khác với Nguyễn Khuyến trong  thế kỷ 19 hoặc Tản Đà ở đầu thế kỷ 20&lt;/em&gt;&lt;em&gt;” &lt;/em&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;[9]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;1. T Khuê, mục từ Bùi Giáng trong &lt;em&gt;Từ điển văn học&lt;/em&gt; (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;2. Nhiều người viết, &lt;em&gt;Đặc tuyển Thi sĩ Bùi Giáng&lt;/em&gt;, tạp chí &lt;em&gt;Thời văn&lt;/em&gt; số 19, 1997.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;3. Giao Hưởng, Bùi Giáng có điên không?, http://www.thamtutu.net/chinh-tri-xa-hoi/bui-giang-co-dien-that-khong.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;4. Đặng Tiến, Bùi Giáng nguồn xuân&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;5. Đặng Tiến, Nguồn Bùi Giáng&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;6. Yến Tử, Phật giáo trong thơ Bùi Giáng, nguồn Liễu Quán&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;7. Nguyên Cẩn, Đi tìm cõi xuân trong thơ Bùi Giáng, www.daitangkinhvietnam.org&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;hr style="margin-left: 0px; margin-right: 0px;" size="1" width="33%"&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[1] T. Khuê, &lt;em&gt;Từ điển văn học&lt;/em&gt; (bộ mới), tr. 162.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[2] Đặng Tiến, Bùi Giáng, thi sĩ kỳ lạ, http://www.quangduc.com/tho/225thisikydi.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[3] Nhất Thanh, Mùa xuân trong cõi thơ Bùi Giáng,  http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoa/xuan/6346-Mua-xuan-trong-coi-tho-Bui-Giang.html,  11/1/2011&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[4] Đặng Tiến, Bùi Giáng, thi sĩ kỳ lạ, http://www.quangduc.com/tho/225thisikydi.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[5] Thích Pháp Như, Lời trong ca khúc Hạnh phúc vô thường&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[6] &lt;em&gt;Kinh Trung Bộ&lt;/em&gt; III, &lt;em&gt;Kinh Nhất Dạ Hiền Giả&lt;/em&gt;, HT Thích Minh Châu dịch. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2001, trang 442.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[7] Bùi Giáng, &lt;em&gt;Mùa Xuân trong Thi Ca&lt;/em&gt;. Nxb Văn Hóa Sài Gòn, trang 57.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[8] Bách khoa toàn thư mở&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[9] Lược theo T. Khuê, &lt;em&gt;Từ điển văn học&lt;/em&gt; (bộ mới), tr. 163.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-819203702713066195?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/819203702713066195/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=819203702713066195' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/819203702713066195'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/819203702713066195'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2011/05/oi-net-cam-nhan-ve-tho-cua-bui-giang.html' title='Đôi nét cảm nhận về thơ của Bùi Giáng'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-U3guUu-fuZE/Td-SBi_BP-I/AAAAAAAAE2A/2KC7KFnr-h0/s72-c/dncntbg1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-2015648200864612188</id><published>2011-05-27T18:43:00.006+07:00</published><updated>2011-05-27T18:55:15.255+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Văn hóa'/><title type='text'>Nội dung tư tưởng và nghệ thuật bài Phổ thuyết sắc thân trong tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:100%;"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-EiWlrAzRAOw/Td-P_pXnLOI/AAAAAAAAE14/hWXE26vUXfw/s1600/tttnrsacthan%255B1%255D1303548465.jpg"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 174px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-EiWlrAzRAOw/Td-P_pXnLOI/AAAAAAAAE14/hWXE26vUXfw/s400/tttnrsacthan%255B1%255D1303548465.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5611361984326348002" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;Thích Pháp Như&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:100%;"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;br /&gt;DẪN NHẬP&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;div face="times new roman" style="text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong  lịch sử của dân tộc Việt Nam phải nói rằng thời đại nhà Trần là một  thời đại hưng thịnh nhất. Không những phát triển từ các chính sách an  dân trị nước mà còn phát triển trên rất nhiều mặt như văn hóa, xã hội,  kinh tế, đời sống, văn chương … nhưng đặc biệt nhất là Phật giáo phát  triển một cách rực rỡ với sự xuất hiện của các thiền sư đều là vua quan  cho đến dân chúng. Triều đại nhà Trần đã sáng lập nên Thiền phái Trúc  Lâm một thiền phái mang hơi thở và đậm đà bản sắc của người Việt. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div face="times new roman" style="text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Với  tinh thần bất khuất, tự lực tự cường không chỉ trong công cuộc bảo vệ  nền hòa bình dân tộc trước vó ngựa xâm lược của ngoại xâm mà còn tự chủ  trong cả tư tưởng Phật học nữa. Chính vì vậy triều đại nhà Trần đã tạo  ra một đạo Phật dung hợp với bản sắc văn hoá dân tộc để tạo nên nét đặc  thù cho lịch sử Việt Nam. Sự dung hợp đó đã làm cho đất nước có được một  nền triết học cũng như nền văn học Việt Nam mang đậm tư tưởng Phật giáo  mà cho đến về sau không có một triều đại nào có thể vượt qua được. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div face="times new roman" style="text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Một  trong những người có công lớn đối với triều đại nhà Trần không ai khác  hơn là Trần Thái Tông. Ông là vị vua đầu tiên và cũng là người đã đặt  nền móng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời để sau này Trần Nhân Tông là  người phát triển đến tột bậc. Trần Thái Tông viết nhiều tác phẩm nhưng  trong đó Khóa Hư Lục là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đến nỗi người  đời còn gọi nó là Khóa Hư Kinh. Theo tư tưởng Phật tại lòng cũng như qua  hình ảnh sắc thân, Trần Thái Tông đã cho ta thấy rất rõ về hình ảnh con  người qua bài &lt;em style=""&gt;“Phổ thuyết sắc thân” &lt;/em&gt;và khuyến cáo mọi  người nên nhận chân rõ về cái hữu hạn của sắc thân và cái vô hạn của  tình yêu. Ông cho rằng sắc thân thì mong manh dễ vỡ, dễ mất đi còn tình  yêu thì vô hạn vĩnh cửu. Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài: &lt;em style=""&gt;“Giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật bài Phổ thuyết sắc thân trong tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông”.&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tuy  nhiên, trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ xin đề cập sơ lược  tiểu sử của Trần Thái Tông, giới thiệu đôi nét về bài Phổ thuyết sắc  thân trong Khóa Hư Lục, bên cạnh đó sẽ bàn sâu về giá trị nội dung và  giá trị nghệ thuật của tác phẩm. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Với  phương pháp nghiên cứu những tài liệu sẵn có của các bậc tiền bối cùng  với những bài viết đề cập đến thân thế của Trần Thái Tông cũng như bài  viết về Phổ thuyết sắc thân, người viết sẽ phân tích những dữ liệu trong  tác phẩm cùng với sự nhận xét đánh giá xung quanh nội dung tư tưởng  cũng như giá trị nghệ thuật để thấy được cái hay cũng như cái chân thật  của tác phẩm này một cách khách quan nhất. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;NỘI DUNG&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;1. ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ – TÁC PHẨM&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;1.1. Tiểu sử Trần Thái Tông&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trần Thái Tông sinh ngày 17 tháng 7 năm 1218, tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh), nguyên tên thật là &lt;span style=""&gt;Trần Bồ&lt;/span&gt;, sau đổi thành &lt;span style=""&gt;Trần Cảnh&lt;/span&gt;. Ông là vị vua đầu tiên của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n"&gt;nhà Trần&lt;/a&gt; trong &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam"&gt;lịch sử Việt Nam&lt;/a&gt;. Ông ở ngôi hơn 32 năm (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1225"&gt;1225&lt;/a&gt; - &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1258"&gt;1258&lt;/a&gt;), làm Thái thượng hoàng 19 năm.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 35.7pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trần Cảnh là con thứ của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%E1%BB%ABa"&gt;Trần Thừa&lt;/a&gt;. Khi ông sinh ra, họ Trần đã nắm quyền thao túng triều chính &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_L%C3%BD"&gt;nhà Lý&lt;/a&gt;. Bấy giờ chú họ ông là Trần Thủ Độ giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ trong triều Lý. Bố của ông cũng từng làm Nội thị khán thủ, một chức quan đứng đầu các quan hầu cận của vua nhà Lý. Năm ông lên 6 tuổi, do sự sắp đặt của người chú họ đã đưa  ông vào cung hầu hạ nữ vương Lý Chiêu Hoàng. Do sự sắp đặt của Trần Thủ  Độ, sau đó ông cưới Lý Chiêu Hoàng khi ấy mới 7 tuổi. Cuối năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1225"&gt;1225&lt;/a&gt;, Trần Thủ Độ ép nữ hoàng nhà Lý nhường ngôi cho ông, khi đó ông vừa tròn 8 tuổi.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.7pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tuy  nhiên, mãi đến năm 20 tuổi, Trần Cảnh (bấy giờ là Trần Thái Tông) và  Chiêu Hoàng chưa có thái tử nối ngôi. Trước tình thế này, thái sư Trần  Thủ Độ đã bày mưu sắp đặt cho Trần Thái Tông cưới chị dâu của mình là  Thuận Thiên (vợ Trần Liễu) lúc ấy đang mang thai 3 tháng và giáng Chiêu  Hoàng làm công chúa, gây sự bất hòa trong mối quan hệ anh em giữa Trần  Liễu với Trần Thái Tông.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.7pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tình  cảnh éo le, cay đắng, nhưng uy thế của Trần Thủ Độ quá lớn khiến Trần  Thái Tông không thể chống lại mặc dù vô cùng bất mãn. Do đó, ông quyết  định từ bỏ hoàng cung, nửa đêm lặng lẽ vượt thành đến núi Yên Tử cầu  xuất gia với quốc sư Trúc Lâm. Trần Thủ Độ hay tin, lệnh cho quan lại và  triều thần đến núi Yên Tử đón Thái Tông về triều để lo việc nước, bằng  không vua ở đâu thì cung điện và quần thần tại đó. Không còn cách nào  hơn, Trần Thái Tông đành về lại hoàng thành với lời khuyên của Quốc sư  Trúc Lâm: &lt;em&gt;“Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm  lắng, tuệ hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì  thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm Phật cực khổ ở bên ngoài.  Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của  mình và tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn bệ hạ về,  bệ hạ không về sao được? Chỉ mong bệ hạ đừng xao lãng việc nghiên cứu  Phật học.”&lt;a title="" name="_ftnref1" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn1" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sau  khi về cung, Trần Thái Tông chuyên cần học tập và trị nước chăn dân,  Ông tinh thông cả Nho, Lão và Phật học, thường cùng các bậc kỳ túc trong  rừng thiền như thiền sư Đại Đăng, Ứng Thuận, Thiên Phong,… đàm luận đạo  lý và tâm giải thoát. Ông là người có công rất lớn trong việc ổn định  lại trật tự xã hội sau thời Lý suy kiệt, đồng thời đặt nền móng cho chế  độ học tập thi cử Việt Nam, sửa chữa đê điều, &lt;em&gt;“vua là người khoan  nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể mở nghiệp, truyền sau,  đặt rường giăng mối, chế độ nhà Trần tất đẹp.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref2" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn2" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;  Không những thế, ông còn là người trực tiếp lãnh đạo toàn dân đứng lên  đánh đuổi giặc Mông Cổ xâm lược vào năm 1257 – 1258, đích thân tham gia  nhiều mặt trận quan trọng, để giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc  chiến đấu vệ quốc đầy oai hùng của dân tộc.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sinh  thời, Trần Thái Tông sáng tác nhiều thơ văn, kệ đạo, chú giải một số  kinh điển quan trọng. Ông là nhà văn, nhà thơ lớn chuyên suy niệm về vấn  đề sanh tử và giải thoát con người, là thiền gia nổi tiếng đặt nền móng  cho sự ra đời của Phật giáo nhất tông thời Trần, để Thiền Phái Trúc Lâm  sau này rực sáng mãi cho tới ngày nay. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong thời gian ở ngôi, Trần Thái Tông đã 3 lần đổi niên hiệu: Kiến Trung (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1225"&gt;1225&lt;/a&gt;-&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1232"&gt;1232&lt;/a&gt;), Thiên Ứng Chính Bình (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1232"&gt;1232&lt;/a&gt;-&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1250"&gt;1250&lt;/a&gt;) và Nguyên Phong (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1251"&gt;1251&lt;/a&gt;-&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1258"&gt;1258&lt;/a&gt;).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sau khi lãnh đạo nhân dân &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t"&gt;Đại Việt&lt;/a&gt; chống lại &lt;a title="Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 1" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nguy%C3%AAn_M%C3%B4ng-%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_l%E1%BA%A7n_1"&gt;cuộc xâm lược lần thứ nhất&lt;/a&gt; của quân &lt;a title="Nhà Nguyên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nguy%C3%AAn"&gt;Nguyên Mông&lt;/a&gt; thành công, ông truyền ngôi cho con trai là Thái tử Trần Hoảng (tức vua &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng"&gt;Trần Thánh Tông&lt;/a&gt;). Truyền ngôi được 19 năm, ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 1277, hưởng thọ 60 tuổi. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Ngày nay ở &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i"&gt;Hà Nội&lt;/a&gt; có phố mang tên Trần Thái Tông ở &lt;a title="Quận Cầu Giấy" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%ADn_C%E1%BA%A7u_Gi%E1%BA%A5y"&gt;quận Cầu Giấy&lt;/a&gt;. Tại thành phố &lt;a title="Nam Định (thành phố)" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh_%28th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91%29"&gt;Nam Định&lt;/a&gt; cũng có phố mang tên ông.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;1.2. Đôi nét về tác phẩm Phổ thuyết sắc thân trong Khóa Hư Lục&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trần Thái Tông là một tác gia lớn, ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm bất hủ. Theo &lt;em&gt;Thánh Đăng Ngữ L&lt;/em&gt;ục  thì tác phẩm của Trần Thái Tông gồm: Văn Tập 1 quyển, Chỉ Nam Ca 1  quyển, Thiền Tông Khóa Hư 10 quyển. Sau này các sách trên được tập hợp  thành Khóa Hư Lục gồm: Thiền Tông Chỉ Nam Tự, Kim Cang Tam Muội Kinh Tự,  Bình Đẳng Sám Hối Văn Tự, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi Tự.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Theo Giáo sư Lê Mạnh Thác trong Trần Thái Tông toàn tập nhận xét&lt;em&gt;“chính  nhà vua cùng với những người khác đã đặt nền móng và mở đầu cho nền văn  học Việt Nam, có vai trò rất lớn trong việc phát triển về sau của nền  văn học dân tộc” &lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref3" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn3" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[3]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Bài &lt;em style=""&gt;“Phổ thuyết sắc thân”&lt;/em&gt; là một trong những tác phẩm nằm trong &lt;em style=""&gt;“Khóa Hư Lục”&lt;/em&gt; của ông. Qua bài &lt;em style=""&gt;“phổ thuyết sắc thân”&lt;/em&gt; ta thấy tác giả đã tự tìm thân phận con người, tìm bản lai diện mục con người và nói đến sự hóa hiện tình yêu của con người. &lt;span style=""&gt;         &lt;/span&gt;Ông  cho rằng thân phận thì hữu hạn, luôn mong manh, ẩn chứa triết lý vô  thường. Tình yêu thì vô hạn, vô lượng, bền vững. Đó là cuộc hành trình  tìm kiếm hạnh phúc con người, chất chứa mầm sống con người. Vì thế, thân  phận và tình yêu là hai mặt, nó tưởng chừng như hai phạm trù đối lập có  một hoàn cảnh nhất định. Đây là hai chủ đề lớn mà bất cứ nền văn học  nào từ cổ chí kim đều đề cập. Vì đây là một cuộc hành trình, nếu không  có thân phận thì không có tình yêu và ngược lại. Cho nên, đây là hai mặt  của một vấn đề. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Trong  lịch sử tiến hóa con người không bao giờ chịu sự an bài thân phận hữu  hạn, luôn khát khao biến cái hữu hạn thành vô hạn. Hay nói một cách  khác, con người không chịu bó hẹp trong khuôn khổ hữu hạn. để không chấp  nhận thân phận hẩm hiu này, con người vượt thoát nó bằng cách tu tập  giải thoát. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đoạn đầu: Mô tả thế giới thật của hình ảnh con người, đó là thật chất sắc thân, do năm uẩn hợp thành, nên giả tạm.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đoạn  hai: Nói về sự hệ lụy của con người qua hình ảnh sắc thân. Sắc thân là  quá trình vận động của con người với cuộc sống. Hay nói cách khác, sắc  thân là …xuất phát từ tham muốn của con người, mà nghiệp nhân và nghiệp  quả do ta tạo lấy. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Trần  Thái Tông xuất phát từ con tim đi đến con tim, con tim luôn rung động  theo nhịp đập của mọi người. Con người là hình ảnh có thật, chúng hiển  bày qua sắc thân giả hợp, nên càng chuốt lấy khổ đau bao nhiêu, con  người luôn phải chịu nhiều áp lực, không kiểm soát được bản thân nên hệ  lụy, nghiệp quả phải thọ khổ. &lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;Triết lý sống  ẩn tàng trước triết lý vô thường hết sức vận động. Trần Thái Tông gọi là  triết lý sống ngậm ngùi. Thực chất nó đứng vào thời điểm vận hành của  lịch sử thay đổi triều đại từ Lê đến Lý rồi sang Trần. Thực chất, trong  Đại Tạng Kinh ở thế kỷ I con người đã tiếp nhận quá trình chan hòa, con  người tương quan với thế giới trần gian và ngay cả thế giới đọa lạc, địa  ngục. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đoạn  3: Nói đến sự giải phóng thân phận để hướng đến tình yêu vô hạn. Quá  trình chuyển hóa thân phận con người từ thân phận hữu hạn đến tình yêu  vô hạn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Thân  phận con người tùy theo nghiệp quả của chính con người tạo ra. Sắc thân  kia do đâu mà có? Do tinh cha huyết mẹ và nhiều nhân duyên tạo thành  thân ngũ uấn. Sắc thân ấy bao gồm thân phận và tình yêu. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tác  phẩm ra đời khoảng thời gian sau khi Trần Thái Tông bức xúc chuyện  triều chính và cả chuyện phòng the, Ông liền bỏ lên núi xuất gia làm  Phật. Tuy nhiên, Ông vẫn không được toại ý…nên quay về vừa làm vua vừa  làm thiền sư. Vì Trần Thái Tông đã nhận ra được rằng: &lt;em style=""&gt;“sơn bổn vô Phật duy tồn hồ tâm, tâm tịch nhi tri thị danh chân Phật” &lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref4" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn4" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[4]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;  (trong núi vốn không có Phật tánh, chỉ tồn tại ở trong tâm người ta.  Tâm yên lặng mà thấu biết thì gọi tên là Phật chân thật). Vì thế, khi về  cung ngoài thời gian việc nước ra Ông còn nghiên cứu kinh điển và tham  vấn các vị thiền sư. Sau khi truyền ngôi cho con lên làm Thái Thượng  Hoàng thì Ông có nhiều thời gian nghiên cứu kinh điển hơn nữa. Ông chiêm  nghiệm về thân phận con người và sự chiêm nghiệm về bi kịch của cuộc  đời ông cũng như về thân phận chung của con người nên ông viết bài &lt;em style=""&gt;“Phổ thuyết sắc thân”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref5" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn5" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[5]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;. Bài này thuộc thể loại luận thuyết trong hệ thống văn học Phật giáo thời Lý-Trần.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Theo &lt;em&gt;Đại Việt Sử Ký Toàn Thư&lt;/em&gt;,  ngoài các tác phẩm trên, Trần Thái Tông còn viết: bài Minh dạy các  hoàng tử về đạo trung – hiếu – hòa – tốn – ôn – lương – cung – kiện vào  năm 1251, Triều Đình Thông Quán 20 quyển (năm 1264), Trần Thái Tông Ngữ  Tập (năm 1226).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;2. CHÁNH VĂN TÁC PHẨM PHỔ THUYẾT SẮC THÂN&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em style=""&gt;2.1. Nguyên văn chữ Hán (có bản chép tay đính kèm)&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em style=""&gt;2.2. Phiên âm&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Phổ thuyết sắc thân&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chư nhân đẳng, thân vi khổ bản, chất thị nghiệp nhân. Nhược tự dĩ thử vi chân, dã thị nhận tặc tác tử. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Nhĩ  khả tử tế khan lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, na xứ  đắc hữu? Cái do niệm khởi duyên hội, ngũ uẩn hợp thành, thể mạo vọng  sinh, hình dung giả xuất, vong chân vong bản, hiện ngụy hiện hư. Hoặc nữ  hoặc nam, hoặc nghiên hoặc xú, tận thị túng tâm phóng khứ, đô vô thoái  bộ hồi qui, khu trì sinh tử lộ đầu, thất khước bản lai diện mục. Do thị  cung mâu ngoại nhận, thùy tri cố thủ nội khan. Lai thời sinh thị hóa  sinh, đáo xứ mộng trung thuyết mộng. Ba ba lục lục, dịch dịch thông  thông; dĩ huyễn vi chân, bội không xu sắc, khô lâu thược tháp hoa trâm  ngọc; xú bì đại đới xạ huân lan. Tiển la ỷ khỏa nùng huyết nẵng, điều  diên hoa ngự thỉ niệu thung. Như tư ngoại sức, chung thị uế căn. Bất  năng giá lý tự tàm; phản hướng cá trung trước ái. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chư  nhân đẳng! Đại tợi cơ quan khối lỗi, toàn bằng ti tuyến khiên trừu;  lộng lai lộng khứ dữ sinh đồng, phóng hậu thu thời chân tử dạng. Tự khởi  vạn ban kế hiệu, đô duyên lục tặc giao công; bất ưu lão bệnh tử lai,  quản tham tửu sắc tài khứ. Đồ cạnh dăng đầu oa giác, cam vi lợi tỏa danh  cương. Nhật gian phí tận hãnh cầu, dạ lý phiên thành mộng tưởng. Tích  đắc nghiệp cấu như tỉnh, bất tri mấn phát tợ sương. Nhất triêu hoạn  nhiễm trầm kha, bách tuế chung qui đại mộng. Tâm can đổng thống, phản  nhược oan thù; cơ thể suy vi chân như ngạ quỉ. Thượng dục kỳ thân đảo  mệnh, bất tri sát vật thương sinh. Tương kỳ nhất thế đẳng trường tùng,  bất giác tứ chi chân lậu ốc. Hồn phách tuy qui quỉ giới, thi hài do ủy  nhân gian. Phát mao trảo xỉ vị cập tiêu, thế thóa tân dịch tiên bính  xuất. Hủ lạn tắc lưu nùng lưu huyết; ô uế tắc huân địa huân thiên. Bão  hắc bất kham quan, ứ thanh chân khả ố. Bất luận bần phú, đồng nhập tử  vong. Hoặc tàng ư thất tắc trùng xuất hủ sinh, hoặc khí ư lộ tắc nha xan  khuyển thực. Thế nhân giai yểm tị nhi quá, hiếu tử phản lũy ly dĩ tàng;  thập cốt thâu hài, yểm cách mai tủy. Quan liệm phó nhất tinh dã hỏa,  thổ đôi táng vạn lý hoang sơn. Tích thời lục mấn chu nhan; kim nhật  thanh khôi bạch cốt. Lệ vũ sái thời vân thảm thảm, bi phong động xứ  nguyệt vi vi. Dạ lan tắc quỉ khốc thần sầu, tuế cửu tắc ngưu tàn mã  tiễn. Huỳnh hỏa chiếu khai thanh thảo lý, cung thanh ngâm đoạn bạch  dương sao. Bi minh bán một tỏa thanh đài, tiều mục đạp xuyên thành khê  kính. Nhậm thị văn chương cái thế, túng nhiêu tài mạo khuynh thành. Đáo  đầu khởi hữu dị đồ, triệt để dã đồng nhất trước. Nhãn bị sắc khiên qui  kiếm thụ, nhĩ tùy thanh dẫn thượng đao sơn. Tị đầu khứu trước xú yên  tinh, thiệt lý khiết lai thiết hoàn nhiệt. Thân khiếp dương đồng câu  quán khái; ý toan hỏa hoạch mỗi ngao tiên. Nhân gian lịch tận bách xuân  thu, ngục nội phương vi nhất trú dạ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Nhược  thị tác gia cụ nhãn, trực tu tảo cấp hồi quan. Phiên thân khiêu xuất tử  sinh khòa; đàn chỉ liệt khai ân ái võng. Túng nhĩ nam, túng nhĩ nữ tổng  thị kham tu; nhậm cừ trí nhậm cừ ngu tận giai hữu phận. Nhược vị đạt  Phật tâm tổ ý, thả tiên bằng trì giới niệm kinh; cập Phật diệc phi, Tổ  diệc phi tắc giới hà trì kinh hà niệm. Cư huyễn sắc diệc danh chân sắc,  xử phàm thân dã thị pháp thân; phá lục tặc vi lục thần thông, du bát khổ  tác bát tự tại. Tuy ngôn nhậm ma nhi nhân nhân ký nhập giá sắc thân lý,  khứ dã thị nan nan. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chư nhân đẳng ! Chỉ giá sắc thân, hựu tác thập ma sinh thoát dã? Nhược vị năng thoát tu lai thính thủ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Kệ viết:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em style=""&gt;Vô vị chân nhân xích nhục đoàn&lt;br /&gt;   Hồng hồng bạch bạch mạc tương man&lt;br /&gt;   Thùy tri vân quyện, trường không tịnh&lt;br /&gt;   Thúy lộ thiên biên, nhất dạng san.&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;em style=""&gt;2.3. Dịch nghĩa: &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0.25in 0.0001pt 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Nói rộng về sắc thân&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Hết thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Các  ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì nơi  nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng  sanh, hình dung giả có. Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ  hoặc nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn không một  bước trở về, chạy rong trên đường sinh tử, mất tuốt “bản lai diện mục”.  Do đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong.  Khi lại, sanh là hóa sanh. Nơi đến, trong mộng nói mộng, lăng xăng lộn  xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến sắc. Đầu sọ khô  cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đãy máu  tanh, giồi son phấn át thùng phân thúi. Trang sức như thế trọn là gốc  nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Hết  thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa  đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi thật là dáng chết. Tự khởi muôn  việc tính toán, đều do lục tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ  thích sắc tài rượu thịt. Luống đua đầu lằng sừng ốc (Đầu lằng sừng ốc:  cái lợi nhỏ nhoi.) cam chịu lợi ràng danh buộc. Trọn ngày dồn sức mong  cầu, tối lại trở thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng  biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về  mộng lớn. Tim gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như  quỉ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sinh hại mạng. Chỉ mong  biết đời sống như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu. Hồn phách  tuy về cõi quỉ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp  tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi  hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng  tởm. Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì giòi  đục tửa sinh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Người đời đều bịt mũi đi  qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt, chôn cất  thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao  cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro  đen. Khi mưa lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng  sáng hắt hiu. Đêm vắng thì quỉ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu  đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế ngâm nỉ non cạnh  hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh phủ, tiều phu dậm mãi thành  lối mòn. Dầu cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung  cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Mắt bị sắc dẫn  trèo lên cây kiếm; tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao; lỗ mũi ngửi toàn  mùi hôi hám; trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt hoài; thân khiếp sợ nước đồng  sôi nóng dội; ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm  năm, trong địa ngục mới là sáng tối. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Nếu  người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quang, chuyển thân nhảy khỏi  vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới ái ân. Dù là nam hay nữ thảy  đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có phần. Nếu chưa đạt được  Phật tâm, Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng  chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng. Nơi sắc  huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật. Phá sáu thức làm  sáu thần thông, dạo tám khổ (Tám khổ là: sanh ,lão ,bệnh, tử, cầu chẳng  được, thương yêu chia lìa, oán thù chung hội, thân năm ấm hưng thịnh)  thành tám tự tại (Tám tự tại: Một thân hiện nhiều thân như số vi trần. -  Thân nhiều như vi trần ở khắp các cõi Phật. - Thân lớn của Phật đến các  thế giới. - Phật hiện vô số thân. - sáu căn hỗ dụng. - Phật đạt tất cả  pháp vẫn như không được. - Phật thuyết pháp tự tại.). Tuy nói thế ấy, mà  mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ đó thật khó thay ! &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Hết thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát ? Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-left: 0.75in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em style=""&gt;Vô vị chân nhân thịt đỏ au,&lt;br /&gt;   Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau.&lt;br /&gt;   Ai hay mây cuộn, không toàn tịnh,&lt;br /&gt;   Sương biếc bên trời, một núi xanh.&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong style=""&gt;3. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TÁC PHẨM PHỔ THUYẾT SẮC THÂN&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-left: 35.7pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;3.1.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Quan điểm về sắc thân trước và sau thời Trần Thái Tông&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Xưa  kia, Đức Phật đã từng nói đến vấn đề sắc thân trong các kinh điển  Nikaya, đó là sự hình thành từ ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức.  Gọi là ngũ uẩn vì đây là năm yếu tố kết tụ lại mà thành. Năm yếu tố làm  ngăn che thánh đạo, nên cũng gọi là ngũ ấm. Con người mãi trôi lăn vào  sanh tử luân hồi vì còn tham đắm vào sắc thân này. Trong khi đó, Đức  Phật dạy thân này là sự kết hợp của ngũ uẩn, mà sắc uẩn được cấu tạo từ  tứ đại là đất, nước, gió và lửa, và bản chất của sắc thân này bao gồm 32  thứ ô uế mà nên. Con người không nhận chân được điều này mà cứ phải  chấp trước cho thân này là của ta, rồi cung phụng nó một cách thái quá  để muôn kiếp vẫn còn mờ mịt trong luân hồi. Con người mãi chìm đắm trong  ngũ dục lạc để nuôi dưỡng thân này nên mới tạo nghiệp để từ đó sinh ra  biết bao nhiêu là đau khổ. Bởi thế, trong kinh Tứ niệm xứ, Phật dạy:  “Tỳ-kheo quan sát thân này, từ chân đến đảnh tóc, chứa đầy những vật bất  tịnh: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan,  bầy nhầy, bao tử, phổi, lá lách, ruột già, ruột non, phân, óc, mật,  đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, mỡ lỏng, nước mắt, nước mũi, nước miếng,  nước nhớp, nước tiểu.” &lt;a title="" name="_ftnref6" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn6" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[6]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Rõ  là như vậy, như điều này ai cũng biết nhưng có bao giờ nghĩ đến đó, chỉ  đến khi nghe Phật nói mới sực tỉnh ra thì ra thân đầy ô uế, bẫn thĩu.  Chính trong sắc thân ô trược đó mà con người đã tạo biết bao nhiêu  nghiệp, cả nghiệp thiện và nghiệp ác. Nếu con người còn có nghiệp thì  còn phải chịu sanh tử luân hồi và còn có nghiệp là còn bị đau khổ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Khổng Tử cũng nói: &lt;em style=""&gt;“Ta khổ vì ta có cái thân này”&lt;/em&gt;,  đúng vậy vì có cái thân này nên ta mới khổ. Có sắc thân chắc chắn là sẽ  tạo nghiệp và tạo nghiệp thì sẽ còn sanh tử mà còn sanh tử thì còn nằm  trong vòng luân hồi mà luân hồi thì sẽ đau khổ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Khi  Phật nhập Niết bàn, vấn đề sắc thân này cũng được các vị thánh đệ tử  của ngài nhắc đến cũng như các vị tổ sư truyền đạo cũng lấy đó làm kim  chỉ nam để giáo huấn cho chúng sanh. Đến khi Phật giáo vào Việt Nam, vấn  đề này cũng được các vị thiền sư đề cập đến, trong đó nổi tiếng nhất là  bài thơ &lt;em style=""&gt;Thị chúng&lt;/em&gt; của thiền sư Vạn Hạnh dưới thời nhà Lý. Ông làm bài thơ này để dạy đệ tử đừng chấp vào sắc thân này vì: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;“Thân như bóng chớp có rồi không&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Cây cỏ xuân tươi thu não nùng&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Biết cuộc thịnh suy đừng sợ hãi&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.”&lt;/em&gt;&lt;sup&gt; &lt;a title="" name="_ftnref7" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn7" style=""&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[7]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Con  người không hiểu được sắc thân này là giả hợp do duyên sanh mà thành,  bị chi phối của luật vô thường ‘sớm còn tối mất”. Mới gặp nhau hồi sáng,  chiều đã nằm im chỉ còn thay ma, hay sáng còn khỏe mạnh, chiều lại đau  yếu. Con người không lường trước được điều gì sẽ xảy ra đối với sắc thân  của mình. Nhạc sĩ Giác An trong ca khúc Giã từ huyễn mộng cũng đã viết:  &lt;em style=""&gt;“Hôm qua người thân còn thấy nhau nay biệt ly, hôm qua nụ  cười tươi đến nay giọt lệ héo, niềm vui sao không mãi lâu dài, sầu đắng  mãi vần hoài khổ đau”.&lt;a title="" name="_ftnref8" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn8" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[8]&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sắc thân là như vậy, mới ngày nào tóc còn xanh nhưng đến khi giật mình nhìn lại thì: &lt;em style=""&gt;“trước mắt việc đi mãi,trên đầu già lắm rồi”&lt;a title="" name="_ftnref9" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn9" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[9]&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;, &lt;/em&gt;mà thiền sư Mãn Giác trong bài thơ Cáo tật thị chúng đã nhận định. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong  dòng chảy vô tận của thời gian, sắc thân con người cũng chỉ là giọt  sương trên ngọn cỏ, khi mặt trời ló rạng giọt sương tan biến vào hư vô  mất dạng. Đời người cũng thế vô thường tựa một cánh hoa phù dung sớm nở  tối tàn, như cánh bèo giữa dòng nước xoáy, như chiếc lá giữa cơn lốc  cuộc đời. Sắc thân này quả thật là mong manh, mong manh đến không ngờ,  như ánh chớp khi trời giống tố lóe lên rồi vụt tắt, như cây cỏ mùa xuân  thì xanh tươi nhưng khi thu đến đã vội úa tàn. Đời người như giấc mộng  mà thôi, có gì đâu mà vui, mà đeo đuổi những cuộc thịnh suy của danh lợi  sắc tài. Thiền sư Vạn Hạnh đã liễu đạt được lẽ đó nên ngài an nhiên tự  tại trước những cảnh thịnh suy của cuộc đời vì ông đã sống trong pháp  thân thanh tịnh chứ không phải sống trong huyễn thân vô thường này.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Theo thiền sư Đạo Huệ, sắc thân chính là bản thể thường nhiên:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;“Sắc thân cùng diệu thể&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Chẳng hợp chẳng lìa xa&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Nếu ai muốn rõ biết&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Trong lò một cành hoa.” &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Diệu  thể chính là chân tâm hay bản lai diện mục của mỗi người, nó luôn hằng  hữu và không hề thay đổi, chỉ có con người mê muội không cảm nhận được  nó đang hiện hữu mà thôi. Chính vì không nhận chân được điều ấy nên con  người cứ mãi tìm kiếm hạnh phúc ở ngoài tự thân. Ở đây ngài Đạo Huệ đã  chỉ rõ nếu ai muốn biết rõ diệu thể đó là như thế nào thì hãy nhìn vào  trong lò lửa sẽ thấy có một cành hoa đỏ thắm đang nở rộ. Cành hoa tượng  trưng cho cái vĩnh hằng còn lò lửa chỉ cho sự giả tạm. Trong cái giả tạm  đó ta vẫn bắt gặp cái vĩnh hằng nếu ta nhận chân được hiện thực của  cuộc sống. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong  tác phẩm Chứng Đạo Ca thì Thiền sư Huyền Giác cũng nói rằng tánh thật  vô minh tức tánh Phật, thân không huyễn hóa tức pháp thân. Thật vậy, nếu  thân này mà không phải là thân huyễn hóa ấy chính là pháp thân thường  trụ. Pháp thân ấy sẽ bất di bất dịch, không sanh tử, không đau khổ,  không luân hồi. Pháp thân đó sẽ mãi trường tồn với thời gian, bất biến  với không gian và hòa hợp cùng đại thể. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Với  tư tưởng của Đức Phật cũng như chư tổ từ xưa đến nay đều có chung một  chủ trương là muốn thoát ra khỏi vòng luân hồi khổ đau là không chấp  trước vào sắc thân này nhưng sự giác ngộ lại nằm ở việc tu tập từ sắc  thân này mà nên. Chính vì vậy mà Phật đã vạch ra con đường trung đạo ấy  là không cung phụng sắc thân một cách thái quá và ép xác khổ hạnh cũng  chẳng đem lại lợi ích gì. Cái chính ở đây là biết rõ thân mình để mà  tỉnh giác trong từng phút giây hiện tại. Nếu còn tham đắm, chấp trước  vào sắc thân này như vậy ta chẳng phải là kẻ mê mờ đó sao.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;3.2. Quan điểm về sắc thân của Trần Thái Tông&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Cùng  với quan điểm với Đức Phật cũng như chư vị tiền bối, trong tác phẩm Phổ  thuyết sắc thân, Trần Thái Tông cũng đã nói rõ sắc thân này là giả hợp,  nếu ta lầm chấp thân là thật thì đó chính là gốc của khổ đau, chẳng  khác gì nhận giặc làm con. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trần  Nhân Tông đã khuyến hóa mọi người rằng tấm thân này chỉ là huyễn hóa,  do sự kết tụ của năm uẩn mà thành cho nên nó là giả hợp không thật có,  luôn luôn biến đổi, sanh diệt không ngừng: &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;em&gt;“các  người hãy xem lại cho tường, sắc thân kia, khi chưa vào bào thai thì do  đâu mà có? Ấy là do niệm nhóm, duyên tụ, năm uẩn hợp thành. Dáng vóc  lầm sinh, hình dung giả lộ”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref10" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn10" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[10]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;.  Sự hiễn hữu của thân còn do nghiệp lực của vô lượng kiếp tạo nên, khi  chưa vào bào thai thân này chẳng biết nương giá vào đâu, phải chăng chỉ  là cát bụi ở một nơi nào đó. Khi nghiệp lực tái sanh là do tinh cha  huyết mẹ cùng với “hương ấm” mà tạo thành. Phải chăng sắc thân này là  một sự vay mượn chứ không thật là của ta. Trong bài Cảnh Sách của Tổ Quy  Sơn mở đầu bằng: &lt;em style=""&gt;“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình  lụy, bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành, tuy nãi tứ  đại phò trì, thường tương vi bội…”&lt;a title="" name="_ftnref11" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn11" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[11]&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/em&gt;.  Với tuệ giác của Phật, người hành giả học và tu Phật nhìn thân tâm này  chỉ là sự vay mượn từ ba nguồn cơ bản: Gia tài nghiệp của nhiều đời, di  thể của cha mẹ và các điều kiện thiết yếu cho sự trưởng thành sinh hóa  mà nhà Phật gọi là: “Giả chúng duyên nhi cộng thành”.&lt;a title="" name="_ftnref12" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn12" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[12]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 28.65pt; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0); font-family: times new roman;font-family:times new roman;" class="MsoBodyText"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Trần  Nhân Tông đã nói lên nỗi khổ của một kiếp người phải trải qua sanh,  lão, bệnh, tử. Đó là định luật của vô thường không một ai thoát khỏi tuy  nhiên có người mới sinh ra thì đã chết, có người còn bị chết trong khi  mới thành hình trong bào thai, có người sinh ra theo thời gian già rồi  bệnh rồi chết. Kiếp người chỉ vọn vẹn nhiêu đó, nhưng cái lâu dài là sự  chịu đựng đau khổ tột cùng, nỗi khổ này đè nặng lên nỗi khổ khác, đến  nỗi con người sống trong nỗi lo sợ nhất là sợ khổ. Nhưng không một ai  cuộc sống này thoát khỏi nỗi khổ đó chỉ trừ chư Phật và các vị A la hán  đã chứng ngộ Niết bàn thoát khỏi ba cõi không còn bị sanh tử ràng buột  thì mới hết khổ. Vậy thì chúng ta công nhận với nhau một điều là còn có  sự sống là còn khổ. Nhưng bù lại mỗi con người ai cũng có Phật tánh bên  trong có thể tu tập để thoát khỏi khổ đau. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 28.65pt; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoBodyText"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đức Phật dạy: “&lt;em style=""&gt;Con người vốn có Phật Tính và có khả năng thành Phật”&lt;/em&gt;.  Có điều là con người có biết phám khá cái Phật tính đó hay không. Nếu  khéo tu bằng những việc phước thiện thì Phật tính ấy sẽ hiện lộ còn  ngược lại nếu chỉ làm những nghiệp ác thì Phật tính ấy bị che mờ đi. Như  vậy ranh giới giữa mê và ngộ chỉ nằm trong gang tất khi sự suy nghĩ,  hành động và lời nói của con người có thiện hay không mà thôi. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đáng  tiếc là cái Phật tính đó lại nằm trong sắc thân chứ, mà con người lại  không để ý đến Phật tính mà chỉ yêu chuộng sắc thân để đến nỗi phải trầm  luân khổ ải. Trần Thái Tông nói lên một sự thật rất phủ phàng về sắc  thân được kết tinh bởi tứ đại. Cái sắc thân đó mà Đức Phật đã thường gọi  là cái đãy da hôi thối, nhìn bề ngoài thì đẹp đẽ nhưng bên trong lại  chứa đầy những thứ nhơ uế chẳng khác nào một thùng phân thối: &lt;em style=""&gt;“Đầu  sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che  đãy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn  là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu.”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref13" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn13" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[13]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;  Thế mà con người đâu có nhìn ra sự thật lại còn tô điểm cho nó bao  nhiêu là thứ lụa là, trâm cài lược giắt, nuôi dưỡng nó bằng bao nhiêu  sinh mạng của sinh vật khác, tham đắm thất tình lục dục, chìm lặng trong  bể ái sông mê để đến nỗi tự ràng buột mình vào oan trái. Con người cứ  mãi mê làm khách phong trần không nghĩ đến ngày trở về quê hương để tìm  lại một khoảng trời tươi đẹp:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;“Mũi lưỡi tham hương say đắm vị&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Lang thang làm khách phong trần mãi&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Ngày mỗi xa quê vạn dặm trường.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref14" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn14" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[14]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đọc  những câu thơ trên ta thấy Trần Thái Tông đã thương cho thân phận kiếp  người hay là đang cảnh tỉnh chúng sanh. Bởi vì chúng sanh còn mãi mê  trong bóng&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;tối. Khi còn trẻ cứ mãi làm lụng vất  vả không có thời gian đâu mà tu hành đến khi già muốn tu tập cũng không  còn đủ sức để mà tu:&lt;em&gt;“một mai mắc phải bệnh nguy, trăm năm trở thành giấc mộng. Tâm can đau đớn, lại tựa oán thù, da thịt suy vi, hệt như ngạ quỷ.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref15" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn15" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[15]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;  Phải nói rằng “lực bất tòng tâm” lòng thì muốn nhưng sức khỏe không cho  phép cứ như vậy mà nằm đó đau đớn rên la với những trận đau của lục phủ  ngũ tạng. Trong khi đó cái chết lại đến từng ngày như cá thiếu nước mà  khi nhắm mắt chẳng biết nghiệp lực đưa đẩy đến đâu. Trong Quy Sơn cảnh  sách của tổ Quy Sơn cũng đã dạy: “Đường trước mịt mờ chẳng biết về đâu,  đến lúc khát nước mới chịu đào giếng thử hỏi làm sao cho kịp?” &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đến  lúc này muốn tu hành cũng chẳng được nữa, thế mới hay cái chết không  đnág sợ mà sợ nhất là khi sống không biết tu. Quỷ vô thường chẳng nể một  ai, khi chết cứ theo nghiệp lực mà tái sanh vào vòng luân hồi. Thương  thay những giết tăng, phá tượng, bất hiếu với mẹ cha phải tái sanh vào  địa ngục chịu trăm ngàn nhục hình muôn kiếp không tái sanh. Thương thay  cho những kẻ khi sống tham lam bỏn xẻn vơ vét của cải, chiếm đoạt tài  sản của người khác để khi chết phải tái sanh làm ngạ quỷ chịu muôn kiếp  đói khác. Thương thay cho những kẻ ngu si, tà kiến để khi chết lại phải  tái sanh thành những loài súc sanh. Phần hồn đã bị nghiệp lực cuốn đi  nhưng thân xác còn ở trần gian thì thật ghê gớm. Trần Thái Tông diễn tả:&lt;em&gt;“tóc  lông răng móng chưa hao mòn, nhớt dãi bọt hơi đà tuôn chảy. Thối nát  thì trôi máu trôi mủ, ô uế thì xông đất xông trời. Đen xạm chẳng dám  nhìn, tím xanh thật dễ sợ.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref16" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn16" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[16]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Thật  thương thay cho thân phận kiếp người, mới ngày nào còn điểm phấn, tô  son, quần là, áo lụa, trăm cài lược giắt vậy mà khi chết đi chỉ là một  cái xác không hồn. Phần xác còn lại cũng phụ thuộc vào những người thân  trên dương gian lo liệu: &lt;em&gt;“hoặc quàn trong nhà thời trùng đẻ dòi sinh, hoặc bỏ ra đường thời chó nhai quạ rỉa.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref17" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn17" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[17]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;  hôi thối chẳng ai dám đến gần nếu để lâu ngày. Như mỹ nhân sinh đẹp một  thời đến lúc chết cũng chỉ là một xác thân bầm tím xạm đem, bao nhiêu  máu mủ xông lên trở nên hôi thối. Đó là một điều có vẻ hơi phủ phàng  nhưng lại là sự thật, và con người kết cục cũng đến cái cảnh đó mà thôi.  Đó là chân lý nhưng chân lý này sao nghe buồn thảm quá. Cái chết không  chừa một ai:&lt;em&gt;“dù người văn chương cái thế, hay kẻ tài sắc khuynh thành. Đến kỳ đâu có khác đường, rốt cuộc cùng chung một nẻo.”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref18" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn18" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[18]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Thế  mới hay thân thể vô thường, bao nhiêu mộng mị trả về khói sương. Lúc đó  theo nghiệp lên đường mà tái sanh trong vòng lục đạo. Tiếc rằng lúc trẻ  không tu để ngày nay chết xuống mồ hoang hiu quạnh, xác thân rả nát,  hồn phách tiêu điều, sớm tối đìu hiu, nhang tàn khói lạnh. Bao nhiêu của  cải để lại trần gian, một mình một bóng hoang tàn đi theo nghiệp lực.  May mắn cho ai siêng tu thì khéo chống mà rũi ro cho ai vụng tu thì khó  chày.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Bằng  con mắt tuệ quán của một thiền gia, Trần Thái Tông đã nói lên một sự  thật về sắc thân chứ không phải bi quan mà nói như vậy. Con người phải  biết chấp nhận sự thật dù sự thật hơi phủ phàng, thà biết được sự thật  để mà sống và có phương pháp để giải quyết còn hơn là sống trong sự giả  tạo để trôi lăn trong đau khổ. Trong kinh Tứ niệm xứ, Phật dạy các tỳ  kheo quán thân này bất tịnh, vô thường không chấp trước, ấy vậy mà có  các tỳ kheo lại hiểu sai lời Phật mà nhàm chán cái thân này để kết cục  dẫn đến quyên sinh. Dẫu biết là thân này là giả tạm, không thật, là vô  thường, sinh diệt nhưng nó vẫn là một phương tiện rất có ít để ta nương  theo trong quá trình tu tập đạo giải thoát, chứng ngộ pháp thân.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đây  là mục đích chính của Trần Thái Tông khi viết Phổ thuyết sắc thân là  khuyên lơn con người nhận chân được sự giả tạm, vô thường của sắc thân,  không cung phụng cho sắc thân này quá nhiều để rồi chạy theo ngũ dục,  hãy tỉnh ngộ để mà tu tập mong thoát khỏi bể khổ trầm luân vì kiếp người  quả thật rất ngắn ngủi: &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;“Công danh phú quý màn sương sớm&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Phú quý kinh nhân giấc mộng dài&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Chẳng rõ bản lai vô nhất vật&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Công lao uổng phí một đời ai”&lt;a title="" name="_ftnref19" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn19" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[19]&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Quả  thật sắc thân này là hữu hạn, ẩn chứa những mầm móng tội lỗi, chịu tác  động bởi luật vô thường, bị nghiệp lực lôi kéo. Nói chung còn có thân là  ta còn sẽ khổ đau, chỉ khi nào ta thật sự chứng đạt Vô dư y Niết bàn  thì mới thoát khỏi sanh tử, để đạt được như vậy con người phải tìm đến  những phương pháp tu tập hay nói cách khác là con đường tu tập đưa đến  bến bờ giác ngộ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;3.3. Quan điểm của Trần Thái Tông về sự tu tập là nương Sắc thân liễu đạt Pháp thân&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong  đoạn đầu của tác phẩm, Trần Thái Tông đã nói rõ một sự thật về sắc thân  thì trong đoạn sau ông lại đưa ra con đường tu tập để đạt đến pháp thân  không gì khác hơn cũng chính từ huyễn thân này là phương tiện. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin-right: 0.25in; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sắc thân là huyễn mộng, là hữu hạn trong vô thường với sinh lão bện tử, với bao nhiêu hệ lụy của trần ai, nhưng từ sắc huyễn đó nếu biết tu tập&lt;em style=""&gt;:  “Dù là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có  phần. Nếu chưa đạt được Phật tâm, Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng  kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì,  kinh nào tụng. Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân  Phật.” &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trần  Thái Tông cho biết tất cả mọi người đều có thể tu tập, có thể liễu ngộ  được chân lý nhiệm mầu mà Đức Phật đã chứng đạt được. Dù là người trí  hay kẻ ngu si ám độn miễn sao có long hướng thượng là được. Cũng từ sắc  thân huyễn ngày con người sẽ chuyển hóa nó bằng sự hành trì theo từng  căn cơ của mỗi người. Trước hết cứ trì giới, tụng kinh theo từng theo  trình độ hiểu biết của mỗi người miễn sao thấy mình hợp với pháp môn mà  mình tu tập là được. Nếu  ai biết tu tỉnh thì sẽ thoát khỏi chuỗi khổ đau hệ phược, thể nhập pháp  thân bất diệt. Pháp thân ấy là vô hạn, không bị giới hạn bởi hai mặt  đối đãi, siêu việt hữu vô, vượt ngoài sanh tử, chẳng một cũng chẳng  khác, chẳng đến cũng chẳng đi, xưa nay một thể rỗng lặng thường nhiên.  Tuy rỗng rang mà hằng biết, tuy lặng lẽ mà thường tri. Đó chính là đích  đến cuối cùng mà người tu thiền hướng tới.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sự  tu hành phải đi đúng con đường trung đọa tránh gặp phải hai cực đoan là  không cũng phụng thân này quá múc và cũng không ép xác khổ hạnh. Cả hai  cực đoan đó không mang lại một kết quả khả quan nào trên bước đường tu  tập. Cho nên người hành giả muốn đạt được pháp thân trước hết không bám  víu hay vướng mắt vào sắc thân này hoặc nói cách khác là không chấp  trước thân này là ta, là của ta, thứ hai là xem thân này như một phương  tiện để tu tập như dung chiếc bè để qua sông mà thôi. Trần Thái Tông đã  chỉ rõ con đường trung đạo là nương vào sắc thân để chúng đạt pháp thân.  Với tư tưởng đó, dù con người có sống trong đời sống ô trược này cũng  không bị nhiễm ô như hoa sen trong đầm dù gần bùn nhưng lúc nào cũng tỏa  hương ngào ngạt: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;“Sen nở trong đầm đỏ trắng phơi&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Bùn nhơ không nhiễm sắc thân tươi&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Thân ngay ngó rỗng gương đầy hạt&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Ấy lý tu hành cũng thế thôi.” &lt;a title="" name="_ftnref20" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn20" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;strong style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[20]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Xét về lý mà tu hành quả thật là đơn giản:&lt;em&gt;“Ở huyễn sắc cũng gọi chân sắc, chỗ phàm thân cũng tựa pháp thân”,&lt;/em&gt;  nhưng còn thực hành một cách rốt ráo thì khó biết bao nhiêu. Thế mới  hay lý thuyết và thực hành cách nhau cả trời cả vực. Dẫu biết rằng sự  giác ngộ nằm ở phàm thân nếu lìa phàm thân mà cầu chân tâm giải thoát  thì không thể có. Thiền sư Phổ Chiếu cũng dạy: &lt;em&gt;“tâm nào tìm chi cho  xa, đâu có lìa thân này. Sắc thân là giả, có sanh có diệt. Chân tâm như  hư không, chẳng đoạn chẳng biến. Cho nên nói: hài cốt vỡ tan trở về lửa  gió, một vật trường linh che trùm trời đất”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref21" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn21" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[21]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;  hay qua lời dạy của ni sư Liễu Nhiên thì Pháp thân cũng bắt nguồn từ  tấm thân ngũ uẩn này nếu khóe biết xa lìa ngũ trần lục dục thì có thể  chứng đạt chân như:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;“Trên đầu núi Năm uẩn là ngôi nhà Phật xưa&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Phật pháp thân đêm ngày hằng phóng hào quang ra sáu cửa&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Nếu người khéo ở nơi đây không khởi tâm phân biệt&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Tức là Hoa Nghiêm (Pháp thân) khắp cả mười phương.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref22" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn22" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[22]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sự  giác ngộ chẳng nằm ở đâu xa xôi khi mỗi người có sẵn hạt châu trong  chéo áo. Có điều là có biết sử dụng hạt châu ấy đúng lúc đúng nơi hay  không. Cũng vậy, Phật ở trong ta chứ không ở đâu xa xôi, dù cho có kiếm  tìm bên ngoài thì Phật cũng không hiện hữu: &lt;em&gt;“Nếu nói ngoài tâm có  Phật, ngoài tánh có Pháp, chấp cứng tình này, muốn cầu Phật đạo dù trải  qua số kiếp như vi trần, đốt thân chặt tay đập xương ra tủy, chích máu  viết kinh, ngồi mãi không nằm ngày ăn một bữa, cho đến đọc hết một đại  tạng kinh, tu muôn ngàn khổ hạnh chẳng khác nào nấu cát làm cơm, chỉ  luống tự nhọc.”&lt;/em&gt; &lt;a title="" name="_ftnref23" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn23" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[23]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Cùng tư tưởng đó kết bài Phổ thuyết sắc thân Trần Thái Tông đã khéo léo tóm gọn trong bốn câu kệ:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;“Vô vị chân nhân khối đỏ ngầu&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Hồng hồng trắng trắng chớ lòe nhau&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Ai hay mây cuốn trời quang đãng&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Xanh biếc bạt ngàn rặng núi sâu.”&lt;/em&gt;&lt;sup&gt; &lt;a title="" name="_ftnref24" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn24" style=""&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[24]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chỉ  với bốn câu kệ thôi mà Trần Thái Tông đã gói gọn tất cả những gì tinh  túy nhất của Phật pháp. Ngài đã sử dụng biện pháp ẩn dụ để nói về những  giáo lý của nhà phật. Vô vị chân nhân là tánh giác nơi con người, khối  đỏ ngầu tức xác thân ngũ uẩn, mây mù chỉ cho phiền não, bầu trời xanh  tượng trưng cho bản thể rỗng lặng nơi mỗi người. Sự tu tập là diệc trừ  những phiền não chất chứa từ nơi thân và tâm để đạt được thể tánh trong  suốt như pha lê cũng bắt nguồn từ tấm thân ngũ uẩn uế trược này mà chứng  ngộ pháp thân. Nói cho cùng cũng là sắc thân ấy khi mê là phàm thân  nhưng khi ngộ thì trở thành pháp thân vậy. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tuy  nhiên, con người không phải ai cũng biết được điều ấy. Họ đâu biết rằng  sự giác ngộ nằm sẵn ở trong thân tâm của mình cho nên cứ mãi chạy theo  những ảo ảnh phù du. Giống như gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa đâu biết  rằng trong nhà có báu cứ mãi lang thang làm lụng vất vã mà vẫn không đủ  ăn vẫn chưa đủ mặc. Trần Thái Tông biết rõ điều đó nên Ngài khuyên: &lt;em&gt;“ai người thông minh lanh lợi, kíp nên sớm liệu đoái xem, vươn mình nhảy thoát hố tử sanh, búng tay xé toang màn ân ái.” &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Biết  được điều ấy rồi thì mọi người nên dũng cảm nhảy thoát qua hố sinh tử  với sức lực của mình bản thân mình mạnh dạng xé tang màn ân ái. Vì ân ái  là gốc sinh tử luân hồi, chính nó đã dẫn dắt chúng sinh bước vào bể khổ  mông lung. Khi đã nhận ra điều ấy mà nỗ lực tu tập “&lt;em style=""&gt;Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ thành tám tự tại.”&lt;/em&gt;  Lúc đó hành giả ung dung tự tại giữa đời trầm luân mà không cần phải  tụng giới trì kinh gì cả. Ngay cả khi hành giả bước vào những nơi trà  đình tửu điếm thì ở đó cũng trở thành thanh tịnh đạo tràng. Bởi lẽ pháp  thân đó cũng là pháp tánh, nó không tướng, rỗng lặng, không chấp trước,  không phân biệt, không có khái niệm đối đãi. Người hành giả sống trong  lạc trú của pháp, khi đi đứng nằm ngồi cũng đều tự tại, đi trên nước,  vào trong lửa, hóa hiện một thân thành nhiều thân. Nói chung tất cả mọi  hành động đều khế hợp với chân như thể tánh như thiền sư Huyền Giác diễn  tả trong tác phẩm Chứng Đạo Ca: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;                                   &lt;/span&gt;&lt;em&gt;“Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Nói im động tịnh thảy an nhiên&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Phỏng gặp phong đao thường nhẹ hững&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh”&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Muốn  đạt được như vậy trước hết con người phải nhìn thấu suốt cuộc đời để  thấy cái lõi của đời sống, của sinh tử vô thường. Người đã ngộ có thể  dùng con huệ nhãn để nhìn thấy rõ chân thật tướng của vạn pháp. Suy cho  cùng sự chứng ngộ nhất thiết phải là điểm đến của cuộc hành trình trải  nghiệm đời sống.&lt;a title="" name="_ftnref25" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn25" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[25]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="margin: 0in 0in 0.0001pt; text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Như vậy, sự giác  ngộ hay không giác ngộ là tự mỗi bản thân con người, vì tự họ có khả  năng giác ngộ. Chính trên cơ sở lý luận ấy mà tư tưởng &lt;em style=""&gt;“ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”&lt;/em&gt;  mới có thể xuất hiện. Xuất phát từ một cơ sở lí luận như thế, vua Trần  Thái Tông mới viết một loạt các tác phẩm lý luận nhắm đến cho tất cả mọi  người chứ không chỉ dành riêng cho một thành phần ưu đãi nào của xã hội  hay Phật giáo.  Phổ thuyết sắc thân là vấn đề cần phải nói rộng rãi cho tất cả mọi  người để mọi người tỉnh ngộ mà tu tập để trở về với bản tánh chân như  hằng hữu của mình. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;4. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM “PHỔ THUYẾT SẮC THÂN”&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;4.1. Thể loại phổ thuyết &lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tác  phẩm “Phổ Thuyết Sắc Thân” trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông đã khéo  dùng thể loại Phổ thuyết. Đây là một thể loại đặc trưng của văn học  Phật giáo Thiền tông. Phổ thuyết là một hình thức thuyết giảng của các  thiền sư đối với các hội chúng, hay những bài viết về một hay nhiều đề  tài mang tính cách chuyên sâu, nói rộng ra và phân tích cho tường tận  gốc rễ của vấn đề, nó mang tính giáo lý phổ quát đến với mọi người. Thể  loại này &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;có nguồn gốc từ đời Đường (Trung Hoa),  đến đời Trần (Việt Nam) thì được Trần Thái Tông vận dụng đưa vào các tác  phẩm của mình. Phổ thuyết hay luận thuyết được chia làm 2 loại: luận  thuyết chính trị và luận thuyết tôn giáo. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Luận  thuyết chính trị là những bài viết bàn về những vấn đề liên quan đến  chính trị, phần lớn là ghi lại lời bình của các sử gia đối với vấn đề  lịch sử của nước nhà như ta thường gặp trong các bộ sách nói về lịch sử  như Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu hay Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ  Liên. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Luận  thuyết tôn giáo (hay phổ thuyết) lại nói đến các vấn đề liên quan đến  tôn giáo với mục đích nói rõ hơn về giáo lý hay triết lý của Phật giáo  hay các tôn giáo khác. Loại phổ thuyết này được đã có từ thế kỷ I, II  với tác phẩm là Lý Hoặc Luận – Mâu Tử; nhưng đến đời Trần thì hình thức  phổ biến rộng rãi trong các tác phẩm văn chương. Ở tác phẩm này Trần  Thái Tông đã dùng thể loại phổ thuyết để nói rõ về sắc thân cho mọi  người liễu tri một cách chân thật nhất.&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong style=""&gt;4.2. Kết cấu tác phẩm cô động, xúc tích&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;“&lt;em style=""&gt;Phổ Thuyết Sắc Thân&lt;/em&gt;” là một bài văn phổ thuyết được trình bày trong tác phẩm “&lt;em style=""&gt;Khóa Hư Lục”&lt;/em&gt;.  Bài văn tuy không dài nhưng người đọc vẫn có thể lĩnh hội được những gì  Trần Thái Tông nói thông qua nội dung biểu đạt về sắc thân của con  người, để từ đó thấu hiểu một cách cặn kẽ mà cố gắng tu tập ngõ hầu đạt  đến Niết bàn. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Bài  văn được phân làm ba đoạn, viết theo lối biền ngẫu đối xứng hết sức cô  động, xúc tích với niêm luật chặt chẽ, mỗi đoạn liên kết với nhau như  không thể tách rời. Bắt đầu từ lời kêu gọi: “Chư nhân đẳng” (mọi người  lắng nghe) đã nói lên tầm quan trọng của bài phổ thuyết. Điều này được  dựa trên những lời của Đức Phật vẫn thường dạy trong các kinh Nikaya khi  thuyết pháp với hội chúng: “Này các Tỳ kheo, hãy nghe và khéo tác ý, ta  sẽ nói…” Đây là lời nói đầu cũng như là lời kêu gọi để nâng cao tính  quan trọng mà những gì người nói sắp nói mà ở đây Trần Thái Tông muốn  nói sự thật về thân phận của con người. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Đoạn  tiếp theo, Trần Thái Tông đã nói rõ về sắc thân do nhân duyên mà hợp  thành, nhưng sắc thân lại là thứ bất tịnh, giả hợp, cho nên mới chịu  những sự đau khổ của vô thường. Sau đó, ngài đưa ra những phương pháp tu  tập để thể nhập pháp thân thường trụ mà thoát khỏi luân hồi khổ đau. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Phần cuối là một bài kệ &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;“Vô vị chân nhân khối đỏ ngầu&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Hồng hồng trắng trắng chớ lòe nhau&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Ai hay mây cuốn trời quang đãng&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em&gt;Xanh biếc bạt ngàn rặng núi sâu.”&lt;/em&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;để  tổng kết lại những ý chính mà bài văn biền ngẫu đã nói ở trên. Mục đích  làm người đọc dễ nhớ, dễ thuộc, để suy nghiệm và hành trì, hoặc có thể  xem như một công án để chiêm nghiệm tu hành hướng đến giác ngộ, giải  thoát. Hình ảnh này xuất xứ từ giai thoại nhà thiền khi thiền sư Lâm Tế  thượng đường dạy chúng: &lt;em&gt;“trên khối thịt đỏ, có một vô vị chân nhân,  thường ra vào từ cửa mặt của mọi người các ông, người chưa chứng cứ được  hãy xem xem.” &lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref26" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn26" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[26]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;Bài này trở thành công án chư vị thiền sư có tên Chư Vị Chân Nhân Xuất Nhập Thiền.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 35.75pt; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Tác  phẩm Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông cũng kết thúc bằng bốn câu thơ  chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt này để đúc kết lại những gì tác giả  nói: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em style=""&gt;“Cư trần lạc đọa thả tùy duyên&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em style=""&gt;&lt;span style="font-weight: normal;"&gt;Cơ tắc xa hề khốn tắc mien&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em style=""&gt;&lt;span style="font-weight: normal;"&gt;Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;         &lt;/div&gt;&lt;p  style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%; text-align: justify; color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em style=""&gt;&lt;span style="font-weight: normal;"&gt;Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;a title="" name="_ftnref27" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn27" style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;sup&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[27]&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/span&gt;&lt;/sup&gt;&lt;/a&gt;&lt;em style=""&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify; font-family: times new roman; color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;em style=""&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Xuyên  suốt từ đầu cho đến cuối tác phẩm Trần Thái Tông đã khéo léo lựa chọn  ngôn từ, sắp xếp ý tưởng, bố cục nội dung hài hòa, đã tạo cho bài phổ  thuyết một kết cấu chặt chẽ hàm súc. Người đọc có cảm giác bị lôi cuốn  vào tác phẩm một cách mãnh liệt theo từng câu chữ và ý nghĩa trong bài.  Với bố cục chặt chẽ của tác phẩm, tác giả đã làm cho người đọc dễ nhớ,  dễ hiểu và dễ lĩnh ngộ nội dung tác phẩm mọi cách thấu triệt.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;strong&gt;4.3. Ngôn ngữ ẩn dụ kết hợp với hình tượng văn chương&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Lời  văn được xây dựng bằng những hình ảnh sống động, nhiều màu sắc, đôi khi  rất mỹ miều diểm lệ, có lúc lại ai oán bi than, nhưng cũng có lúc lại  rất trầm bổng đầy hào khí. Người đọc thỏa sức để liên tưởng, kết nối  những hình ảnh đó lại để thấy một bức tranh hiện thực, bao gồm nhiều  đường nét mô tả, thậm chí có khi nghe được cả âm thanh vừa bi, vừa hùng  ẩn chứa đằng sau những đường nét đó.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Nói  chung, bút pháp hiện thực, mô tả thì chân thật, giọng điệu thì hết sức  truyền cảm. Đọc mỗi câu, mỗi chữ trong bài, người đọc cảm thấy có bóng  dáng mình ở trong đó. Bởi lẽ, nhà văn nói về cuộc đời của mình cũng là  nói đến cuộc đời của muôn người. Tác giả đã bằng một giọng điệu tự thán  với lòng mình, đồng nghĩa tự mình cảnh tỉnh với chính mình. Dù cho mình  là bậc đế vương cũng nằm trong vòng hệ lụy, biến đổi của sanh tử. Hình  ảnh từ một người được sinh ra rồi trưởng thành…ai cũng theo bánh xe thời  gian mà bị chuyển hóa. Thân xác phải tan rã, tinh thần phải tiều tụy,  có gì đâu mà phải nắm giữ, mà luyến tiếc. Sự thật con người được phơi  bày qua các thân phận, thân phận đó dù là kẻ cùng đinh, dù là bậc vương  giả cũng phải bình đẳng trước cái chết. Thế nên, “trần gian dù trăm  tuổi, trăm năm, địa ngục mới một ngày, một tối”. Bởi thế, Trần Thái Tông  mới khuyến cáo mọi người thay đổi cái nhìn từ hiện thực cuộc sống. Mỗi  người cần phải tự nhìn lại, cảnh tỉnh, quán chiếu lại với chính mình. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Viết  Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông rất khéo léo trong việc sử dụng ngôn ngữ ẩn  dụ. Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, lấy hình tượng này để diễn bày đối  tượng khác, không nói trắng hết ra mà để người đọc tự chiêm nghiệm chủ ý  tác giả nằm phía sau lớp ngôn từ kia. Không phải mất nhiều lời lẽ để  diễn tả, chỉ với vài hình tượng ẩn dụ, Trần Thái Tông đã giúp người đọc  thẩm thấu tới tận gốc rễ của vấn đề. Cụ thể, Ngài dùng hình ảnh bộ xương  khô, túi da bẩn, thùng phân thối để chỉ cho sắc thân giả hợp. Sắc thân  ấy vốn vay mượn từ tứ đại, hình thành bởi ngũ uẩn, đã không có gì đáng  quý lại càng nhơ nhớp dơ bẩn.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Trái  với sắc thân là pháp thân. Cũng vẫn mượn ngôn ngữ ẩn dụ, Trần Thái Tông  đưa ra hình ảnh “vô vị chân nhân”, “bản lai diện mục”, “pháp thân” để  chỉ cho cái chân thật ấy. Vô vị chân nhân là con người thật, không nương  vào đẳng cấp, vượt cả phàm thánh, tức là con người giải thoát. Bản lai  diện mục là bộ mặt thật xưa nay, tức cái chân thật trong ta, cũng chỉ  cho chân tâm, Phật tánh. Pháp thân là một trong ba thân của Phật: pháp  thân, báo thân, ứng hóa thân; chỉ cho tánh thật xưa nay của vạn pháp,  cũng là thân chân thật của mười phương chư Phật. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Một  vài hình tượng văn chương khác cũng được sử dụng thật khéo léo. Chẳng  hạn khi diễn tả về một đời người, Trần Thái Tông không nói: &lt;em style=""&gt;“mạng sống con người thật ngắn ngủi”&lt;/em&gt; mà Ngài lại bảo: &lt;em style=""&gt;“trăm cái xuân thu ở nhân gian, chỉ một đêm ngày trong địa ngục”; &lt;/em&gt;hoặc  khi nói về tâm giải thoát thênh thang rỗng lặng, Ngài lại đưa ra hình  tượng “bầu trời quang đãng”, “xanh biếc bạt ngàn rặng núi sâu”.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Có  thể nói, các hình tượng văn chương và ẩn dụ xuyên suốt tác phẩm đã thay  thế ngôn từ một cách hoàn hảo, nói lên đầy đủ ý nghĩa về hai mặt đối  lập của con người: sắc thân giả tạm và pháp thân vĩnh hằng. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;strong&gt;4.4. Bút pháp tả thực đi kèm với lối văn biền ngẫu và các hình ảnh so sánh&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Để  chỉ rõ sự thật về sắc thân, Trần Thái Tông đã chọn cho mình bút pháp tả  thực để diễn đạt. Với bút pháp này, Ngài đưa ra những điều thực tế nhất  mà không ai chối cãi được. Chẳng hạn như khi nói về sự mê đắm của con  người vào ngũ dục, Ngài viết: &lt;em&gt;“chẳng lo già bệnh chết kề, chỉ tham rượu sắc của cải, tranh nhau sừng sên đầu nhặng, cam chịu khóa lợi xiềng danh”.&lt;/em&gt; Lúc nói về xác thân xú uế thì Ngài ví như &lt;em style=""&gt;“thùng phân thối”&lt;/em&gt;, &lt;em style=""&gt;“túi máu tanh”,&lt;/em&gt; còn khi diễn tả thân xác con người lúc chết, Ngài viết: &lt;em&gt;“thối nát thì trôi máu trôi mủ, ô uế thì xông đất xông trời, đen xạm chẳng dám nhìn, tím xanh thật dễ sợ”.&lt;/em&gt; Thái độ của con người thì: &lt;em&gt;“người đời đều bịt mũi mà bước, con hiếu phải lấy lồng để che”&lt;/em&gt;. Và cuối cùng: &lt;em&gt;“nhặt  cốt thu hài, chôn thây lấp xác, quan quách đốt một mồi dã hỏa, nấm đất  táng muôn dặm giang sơn, thưở xưa tóc mượt má hồng, ngày nay tro tàn  xương trắng.”&lt;/em&gt; Đó là những hình ảnh tả thực về sắc thân từ khi còn sinh tiền đến lúc từ giã cõi đời, trở về cát bụi.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Bên  cạnh bút pháp tả thực, Trần Thái Tông còn sử dụng lối văn biền ngẫu  suốt từ đầu cho đến cuối văn bản. Biền ngẫu là lối văn cổ gồm những cặp  câu có hai hay nhiều vế đối nhau, đòi hỏi người viết phải có trình độ  văn chương xuất cách, cộng thêm sự am tường về vấn đề một cách thông  suốt, hình ảnh sử dụng chọn lọc, độc đáo. Ta thường gặp lối văn này  trong các bài hịch, phú, văn tế. Chẳng hạn như các bài: Văn tế nghĩa sĩ  Cần Giuộc, Bình Ngô đại cáo,… đều được viết theo lối văn biền ngẫu. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Ở  đây, Trần Thái Tông đã vận dụng nhuần nhuyễn thể loại này. Chẳng hạn  khi nói con người ngày đêm rong ruổi theo danh lợi không thôi, Ngài  viết: &lt;em style=""&gt;“ban ngày nhọc sức cầu may, trong đêm trở thành mơ mộng”&lt;/em&gt;. Đến lúc chết: &lt;em style=""&gt;“hồn phách tuy về ngạ quỷ, thi hài còn ở nhân gian”&lt;/em&gt;. Đáng thương thay: &lt;em style=""&gt;“thưở xưa tóc mượt má hồng, ngày nay tro tàn xương trắng”&lt;/em&gt;. Vậy nên hãy mau tỉnh ngộ: &lt;em style=""&gt;“vươn mình nhảy thoát hố tử sinh, búng tay xé toang màn ân ái”&lt;/em&gt;, và: &lt;em style=""&gt;“phá sáu giặc làm sáu thần thông, hòa tám khổ làm tám tự tại”.&lt;/em&gt; &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Mỗi  câu đọc lên như thấm vào tận xương tủy. Trần Thái Tông lần lượt nêu ra  các hình ảnh đối xứng kết hợp với lối so sánh để cảnh tỉnh con người: &lt;em style=""&gt;“ban ngày”&lt;/em&gt; đối với &lt;em style=""&gt;“ban đêm”&lt;/em&gt;, &lt;em style=""&gt;“ngạ quỷ”&lt;/em&gt; đối với &lt;em style=""&gt;“nhân gian”&lt;/em&gt;, &lt;em style=""&gt;“tóc mượt má hồng”&lt;/em&gt; đối với &lt;em style=""&gt;“tro tàn xương trắng”&lt;/em&gt;;  tử sinh ví như hố thẳm, ân ái dụ như màn lưới giăng, sáu giặc nếu khéo  chuyển sẽ thành sáu thần thông, tám khổ nếu khéo tu sẽ thành tám tự tại.  Đọc những lời văn tha thiết như thế, ta mới cảm nhận được tấm lòng vị  tha của Ngài. Thật cao cả lắm thay! &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;strong style=""&gt;4.5. Sử dụng nhiều điển tích, điển cố nhà Phật.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;           &lt;/span&gt;Để  chỉ cho sắc thân huyễn ảo, để xây dựng pháp thân vĩnh cửu. Điển cố là  một nghệ thuật tu từ, mượn tích xưa trong giáo lý nhà Phật để minh họa  cho cái ý tưởng mà mình muốn diễn đạt. Mục đích là nhằm tăng thêm tính  cô động và tính hàm xúc, nhưng lại mang nhiều nội dung thông điệp khác  mà tác giả muốn gởi gắm cho độc giả.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 1.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;“Vô vị chơn nhơn thịt đỏ au,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 1.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;em&gt;Hồng hồng bạch bạch&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;chớ lầm nhau,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 1.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;em&gt;Ai hay mây cuộn, không toàn tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 1.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;em&gt;Sương biếc bên trời một núi xanh”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref28" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn28" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[28]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;/p&gt;         &lt;p style="margin-right: -0.25pt; text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Trong bài này tác giả sử dụng nhiều điển cố như: “&lt;em style=""&gt;đăng đầu oa giác&lt;/em&gt;” (đầu lằn sừng ốc), “&lt;em style=""&gt;vô vị chân nhân&lt;/em&gt;” (là công án của thiền Lâm Tế)… &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng rất nhiều thuật ngữ Phật giáo được rút tỉa trong kinh điển như: &lt;em style=""&gt;“sắc thân”, “Pháp thân”, “lục thông”, “lục căn”, “lục trần”, “bát khổ”&lt;/em&gt;…&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Thông  qua đó, tác giả muốn chỉ rõ cho mọi người nhận chân được thân phận là  “sắc thân”, và tình yêu mới chính là “Pháp thân” vĩnh cửu. Việc sử dụng  những hình tượng và giáo lý của Phật giáo đã giúp cho tác phẩm của Trần  Nhân Tông đa chiều cạnh và nhiều âm sắc hơn, làm cho người đọc càng giàu  them trí tưởng tượng trong tuyệt tác văn chương này.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: center; line-height: 150%;" class="MsoNormal" align="center"&gt;&lt;strong style=""&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Như  vậy, triết lý Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông đã giải đáp thoả mãn các  vấn đề mà người ta thường đặt câu hỏi để tra vấn tìm câu giải đáp cho  tri thức loài người. Trần Thái Tông đã mở ra cánh cửa bí mật bằng tâm  thức giác ngộ của mình, Ngài đã phơi bày ra ánh sáng những điều mà chưa  một triết gia nào làm được, đó là vấn đề vũ trụ và bản chất cuộc sống  con người. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Ông khuyên mọi người hãy trở về với tâm vốn thanh tịnh và trong sáng của mình &lt;em style=""&gt;“lòng lặng mà biết thì gọi là Phật chơn thật”&lt;/em&gt;&lt;a title="" name="_ftnref29" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftn29" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:12pt;"&gt;[29]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.  Không ngoài sự tướng mà có sự vật, mà dung hoà tất cả làm một, một là  tất cả. Nói chung khi tâm chưa khai ngộ thì cái thực tại không hình sắc  nổi lên, cái ý thức mê lầm danh sắc cũng nổi lên. Tham đắm chấp trước  thân sắc ngũ uẩn rồi sinh ra đau khổ. Ngược lại, nếu đã ngộ lý chân thật  rồi thì mọi vật đều thực tại như như bất động.&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Phật tính là thực tại tối cao, cái bản lai tính giác ấy sẳn có nơi chúng sanh, kẻ trí hay ngu đều có khả năng giác ngộ cả.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Bằng  phương thức của Trần Thái Tông, Ông đã hành động thực hiện nối liền đời  sống nhập thế lẫn xuất thế, hoà nhập giữa xã hội với thiên nhiên, giữa  nhân sinh với nghệ thuật sống, Ông cởi mở các hệ luỵ vướng mắc về sắc  thân để đi đến giải thoát tự tại.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Vì  thế, mới nói Trần Thái Tông là một vị vua nhưng cũng là một vị thiền  sư, Ông đã liễu ngộ được các pháp. Và thật sự giác ngộ giải thoát ngay  đời sống hiện tại này vậy. Không chỉ thế mà ông đã khéo léo vận dụng sự  chứng ngộ Phật pháp của mình để viết lên những tác phẩm bất hủ lưu  truyền cho thế hệ mai sau. Phải chẳng những là một vị vua, một thiền  gia, một triết gia mà còn là vị Bồ tát hóa thân vòa cuộc đời này để đem  lại sự hòa bình cho đất nước trong khi quân Nguyên – Mông xâm lược. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Tư  tưởng nội dung của Phổ thuyết sắc thân đã mang đến cho con người một  cái nhìn mới về sự thật của xác thân này mà còn giá trị nghệ thuật cũng  khá phong phú khi ông sử dụng trong tác phẩm để người sau còn nối tiếp  ông để cho ra đời những tác phẩm đặc sắc hơn. Phải nói rằng ông là người  đã đặt nền tảng về tư tưởng cho thiền phái Trúc Lâm sau này mà ảnh  hưởng nhiều nhất là vua Trần Nhân Tông cháu nội ông. Âu đó cũng là một  sự tiếp nối tốt đẹp đã làm rạng danh không những cho sự phát triển của  nước nhà mà còn cho cả sự phát triển của Phật giáo nữa. &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: right; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;" class="MsoNormal" align="right"&gt;&lt;strong style=""&gt;Thích Pháp Như&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: justify; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;         &lt;p style="text-align: center; text-indent: 35.75pt; line-height: 150%;" class="MsoNormal" align="center"&gt;&lt;strong style=""&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;         &lt;ol start="1" style="margin-top: 0in;" type="1"&gt;&lt;li style="line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Sa môn      Thích Thanh Kiểm (dịch), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt; (Trần Thái Tông). Hà Nội: NXB      Tôn Giáo, 2003. &lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Nguyễn Đăng Thục (dịch và chú thích), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt;.      Sài Gòn: Khuông Việt xuất bản, 1972. &lt;/li&gt;&lt;li style="line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;HT.      Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Khóa Hư Lục Giảng Giải.&lt;/em&gt; TP. Hồ Chí Minh: NXB Thành      Phố Hồ Chí Minh, 2001. &lt;/li&gt;&lt;li style="line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;HT.      Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Chân Tâm Trực Thuyết Giảng Giải. &lt;/em&gt;Hà Nội: NXB Tôn      Giáo, 2007.&lt;/li&gt;&lt;li style="line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;HT.      Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20&lt;/em&gt;. TP. Hồ      Chí Minh: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998. &lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Nguyễn Lang, &lt;em&gt;Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,&lt;/em&gt; tập      I – II – III. Hà Nội: NXB Văn Học, 2000. &lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Lê Mạnh Thát, &lt;em&gt;Toàn Tập Trần Thái Tông&lt;/em&gt;. TP. Hồ      Chí Minh: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004.&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Lê Mạnh Thát, &lt;em&gt;Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam,&lt;/em&gt; tập      3. TP. Hồ Chí Minh: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006.&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Lê Mạnh Thát, &lt;em&gt;Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam&lt;/em&gt;,      tập 3. TP. Hồ Chí Minh: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001.&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Viện văn học, &lt;em&gt;Thơ Văn Lý Trần&lt;/em&gt;, tập 2. Hà Nội:      NXB Khoa Học Xã Hội, 1989.&lt;/li&gt;&lt;li style="line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Cao      Huy Giu (dịch), &lt;em&gt;Đại Việt Sử Ký Toàn Thư&lt;/em&gt;. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông      Tin, 2006.&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Nguyễn Công Lý, &lt;em&gt;Văn Học Phật Giáo Thời Lý – Trần      Diện Mạo và Đặc Điểm.&lt;/em&gt; TP. Hồ Chí Minh: NXB Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí      Minh, 2003. &lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, &lt;em&gt;Tài liệu hội      thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới Cơ Hội Và Thách Thức.&lt;/em&gt; TP. Hồ Chí      Minh, lưu hành nội bộ, 2006.&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Nguyễn Khắc Thuần, &lt;em&gt;Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại      Việt Nam&lt;/em&gt;.      TP. Hồ Chí Minh, NXB Giáo Dục, 2005.&lt;/li&gt;&lt;li style="text-align: justify; line-height: 150%;" class="MsoNormal"&gt;Và một vài tài liệu khác.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;         &lt;/em&gt; &lt;em style=""&gt;&lt;div style=""&gt;           &lt;hr size="1" width="33%" align="left"&gt;         &lt;div id="ftn1" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn1" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref1" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Lời khuyên của Quốc sư Phù Vân với Trần Thái Tông.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn2" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn2" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref2" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Cao Huy Giu (dịch), &lt;em&gt;Đại Việt Sử Ký Toàn Thư&lt;/em&gt;. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006, tr. 398.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn3" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn3" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref3" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[3]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Lê Mạnh Thát, &lt;em&gt;Toàn Tập Trần Thái Tông&lt;/em&gt;. TP. Hồ Chí Minh: NXB Tổng Hợp TP.HCM, 2004, tr. 321..&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn4" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn4" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref4" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[4]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyễn Đăng Thục, &lt;em style=""&gt;Thiền Học Trần Thái Tông&lt;/em&gt;. Nxb Văn Hoá Thông Tin&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Hà Nội, 1996, tr.63.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn5" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn5" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref5" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[5]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Thích Phước Đạt, &lt;em style=""&gt;Tài Liệu Giảng Dạy&lt;/em&gt;, tại Học Viện Vạn Hạnh, TP. Hồ Chí Minh (26-3-2011)&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn6" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn6" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref6" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[6]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Toát yếu Tỳ kheo ni Pháp Quang, kinh Tứ niệm xứ, http://www.quangduc.com&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn7" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn7" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref7" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[7]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyên văn chữ Hán: &lt;em&gt;“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô/ Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn8" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn8" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref8" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[8]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Lời ca khúc Giã từ huyễn mộng của nhạc sĩ Giác An&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn9" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn9" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref9" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[9]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Câu thơ trong bài kệ &lt;em style=""&gt;Cáo tật thị chúng&lt;/em&gt; của thiền sư Mãn Giác, chữ Hán: Sự trục nhãn tiền quá, lão tùng đầu thượng lai&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn10" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn10" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref10" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[10]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyên văn chữ Hán: &lt;em&gt;“Nhữ  khả tử tế khán lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, ná xứ  đắc hữu? Cái niệm khởi quyên hội, ngũ uẩn hợp thành, thể mạo vọng sinh,  hình dung giả xuất.”&lt;/em&gt;&lt;span style="font-size:14pt;"&gt; &lt;/span&gt;(Thơ Văn Lý Trần, tập II, trang 53)&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn11" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn11" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref11" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[11]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Thích Trí Quang, Quy Sơn cảnh sách, &lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn12" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn12" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref12" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[12]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Thích Quảng  Thiện, Bài viết &lt;em style=""&gt;Vay mượn&lt;/em&gt; đăng trên www.phatgiaodaknong.com&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn13" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn13" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref13" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[13]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Sa Môn Thích Thanh Kiểm (dịch), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt; (Trần Thái Tông). Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2003, tr. 22.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn14" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn14" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref14" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[14]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyên văn chữ Hán: &lt;em&gt;“Tỵ  trước chư hương thiệt tham vị/ Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh/ Vĩnh  vi lãng đãng phong trần khách/ Nhật viễn gia hương vạn lý trình.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn15" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn15" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref15" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[15]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Sa Môn Thích Thanh Kiểm (dịch), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt; (Trần Thái Tông). Sđd, tr. 23.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn16" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn16" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref16" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[16]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Như trên, tr. 23. &lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn17" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn17" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref17" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[17]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Như trên, tr. 23.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn18" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn18" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref18" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[18]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Như trên, tr. 23.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn19" style=""&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;a title="" name="_ftn19" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref19" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[19]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt; Thiền Sư Minh Chánh&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt; &lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn20" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn20" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref20" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[20]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyên văn chữ Hán: &lt;em&gt;“Hồng  hồng bạch bạch thủy trung liên/ Xuất ố nê trung sắc chuyển tiên/ Hành  trục ngẫu không bồng hựu thực/ Tu hành diệu lý diệc như nhiên.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn21" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn21" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref21" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[21]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; HT. Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Chân Tâm Trực Thuyết Giảng Giải&lt;/em&gt;. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2007, tr. 193-194.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn22" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn22" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref22" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[22]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; HT. Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20&lt;/em&gt;. TP. Hồ Chí Minh: NXB TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr. 135.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn23" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn23" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref23" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[23]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; HT. Thích Thanh Từ, &lt;em&gt;Chân Tâm Trực Thuyết Giảng Giải&lt;/em&gt;. Sđd, tr. 195.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn24" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn24" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref24" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[24]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Sa Môn Thích Thanh Kiểm (dịch), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt; (Trần Thái Tông). Sđd, tr. 24. Nguyên văn chữ Hán của bài kệ là: &lt;em&gt;“Vô  vị chân nhân xích nhục đoàn/ Hồng hồng bạch bạch mạc tương man/ Thùy  tri vân quyển trường không tịnh/ Thúy lộ thiên biên nhất dạng san.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn25" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn25" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref25" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[25]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;  Tiến sĩ Nguyễn Kim Châu, Ngộ và hành trình trải nghiệm đời sống của  thiền nhân đời Trần, Đại học Cần Thơ,  http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn26" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn26" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref26" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[26]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Trích theo Sa Môn Thích Thanh Kiểm (dịch), &lt;em&gt;Khóa Hư Lục&lt;/em&gt; (Trần Thái Tông). Sđd, tr. 25.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn27" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn27" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref27" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[27]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Dịch tiếng Việt: &lt;em style=""&gt;Ở đời vui đọa hãy tùy duyên, đói cứ ăn đi mệt ngủ liền, trong nhà có báu thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.s&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn28" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn28" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref28" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[28]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;Thích Thanh Từ, &lt;em style=""&gt;Khoá Hư Lục Giảng Giải&lt;/em&gt;. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Văn Hoá Trung Ương. Thiền Viện Thường Chiếu (ấn hành), 1996, tr.127.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;div id="ftn29" style=""&gt;         &lt;p class="MsoFootnoteText"&gt;&lt;a title="" name="_ftn29" href="http://hoalinhthoai.com/?option=ban_tin&amp;amp;view=ban_tin_chitiet&amp;amp;cd_id=28&amp;amp;post_id=3469&amp;amp;lang=vn#_ftnref29" style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span class="MsoFootnoteReference"&gt;&lt;span style="font-size:10pt;"&gt;[29]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Nguyễn Đăng Thục, &lt;em style=""&gt;Thiền Học Trần Thái Tông&lt;/em&gt;. Nxb Văn Hoá Thông Tin&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Hà Nội, 1996, tr. 63.&lt;/p&gt;         &lt;/div&gt;         &lt;/div&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);font-family:times new roman;font-size:100%;"  &gt;&lt;em&gt;                  &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-2015648200864612188?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/2015648200864612188/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=2015648200864612188' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/2015648200864612188'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/2015648200864612188'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2011/05/thich-phap-nhu-dan-nhap-trong-lich-su.html' title='Nội dung tư tưởng và nghệ thuật bài Phổ thuyết sắc thân trong tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-EiWlrAzRAOw/Td-P_pXnLOI/AAAAAAAAE14/hWXE26vUXfw/s72-c/tttnrsacthan%255B1%255D1303548465.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-7218978892724723656</id><published>2011-05-27T18:38:00.001+07:00</published><updated>2011-05-27T18:42:20.092+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Văn hóa'/><title type='text'>Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo nói chung trong tiến trình truyền bá, giao lưu và tiếp biến</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-YNz-KKZ5Q1w/Td-N-3PiyrI/AAAAAAAAE1o/r26i_ymwN-A/s1600/lyntlntpgbt7.jpg"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 266px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-YNz-KKZ5Q1w/Td-N-3PiyrI/AAAAAAAAE1o/r26i_ymwN-A/s400/lyntlntpgbt7.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5611359771847477938" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;Thích Pháp Như&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;DẪN NHẬP&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trải qua bao thăm trầm của lịch sử Việt Nam thì đạo Phật đã đồng hành  với dân tộc xuyên suốt một thời gian khá dài. Hình ảnh của đạo Phật in  sâu vào lòng dân tộc qua mái chùa làng cong cong, rêu phong cổ kính  trong những thôn xóm nhưng nghi lễ Phật giáo có vị trí không nhỏ trong  quá trình hình thành nền văn hoá của dân tộc. Có thể nói, nghi lễ Phật  giáo là một trong những nhân tố tạo thành tính đặc trưng của văn hóa  Phật giáo Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Một vai trò  hết sức trọng yếu khác của nghi lễ Phật giáo đó là chức năng hoằng pháp,  xương minh Phật pháp, phổ cập giáo lý Phật giáo trong cộng đồng dân tộc  Việt Nam thông qua nội dung và hình thức của nghi lễ. Nhìn lại lịch sử  lâu dài hiện diện và phát triển trên quê hương đất nước Việt Nam. Nếu  nhìn từ góc độ văn hóa, thì mỗi nghi thức lớn nhỏ là một trong những tố  phẩm văn chương cơ bản tạo nên nét đặc trưng nền văn hóa nghi lễ Phật  giáo Việt Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong thời đại ngày nay, cùng với sự hội nhập và tiếp biến văn hóa  toàn cầu, nghi lễ Phật giáo đã có những sự thay đổi nhưng nó có cần  thiết trong công việc hoằng pháp ngày nay của đọa Phật không, chính vì  vậy mà người viết đã chọn đề tài &lt;em&gt;“Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo  Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói chung trong tiến  trình truyền bá, giao lưu và tiếp biến”&lt;/em&gt;.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Với những gì trình bày trong bài viết được tích lũy từ những bài  giảng của giáo thọ sư trên lớp, cộng với sự tham khảo tài liệu kinh –  luật – luận và các bài viết của chư tôn đức, bằng những kiến thức ít ỏi  của mình người viết sẽ đưa ra những nhận định một cách khách quan cũng  như chủ quan để hiện thực hóa đề tài một cách chân thật nhất.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;NỘI DUNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1. Khái niệm về nghi lễ Phật giáo&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nghi có nghĩa là uy nghi, cung cách, phong cách dáng vẻ nghiêm nghị  bên ngoài hay nói cách khác là hình thức bên ngoài của một con người.  Nghi là cách sắp xếp, cách bố trí của một bộ phận, một tổ chức nào đó.  Nghi còn là tiêu chuẩn đo lường như: nghi khí (một dụng cụ để đo lường)  và nghi còn có nghĩa là đồ cúng, ví dụ như: nghi hạ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Lễ là cách bày tỏ sự kính trọng, nghĩa cử đẹp đẽ, sự thực hiện các  phép tắc, khuôn mẫu đã định sẵn mà người xưa đã thực hiện; là hình thức  thể hiện việc tổ chức giao tế xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong  giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường, các hình thức cúng  bái, tế lễ, cầu nguyện…&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nghi lễ thường được thể hiện sự tương tác trong xã hội, trong tín  ngưỡng, trong sinh hoạt tôn giáo thông qua đời sống tâm linh, mang đậm  sắc thái văn hóa dân tộc. Nghi lễ là một từ chung, mang ý nghĩa qua sự  tổ chức, thể hiện các khuôn mẫu được đặt ra của một hay nhiều người đối  với một hay nhiều người khác. Nghi lễ gồm nhiều nghi thức hành lễ hợp  lại.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nghi lễ Phật giáo là những hình thức và nội dung được thể hiện trong  toàn bộ hoạt động của Phật giáo từ nếp sống sinh hoạt của Tăng già, sự  bố trí của tổ chức giáo hội, sự sắp xếp của một ngôi chùa, cách giao  tiếp ứng xử giữa những người tương quan với nhau trong Phật giáo. Ví dụ  như người tu sĩ phải có oai nghi, tế hạnh và giữ gìn giới luật thanh  tịnh qua công phu tu tập được thể hiện ra hình thức bên ngoài trang  nghiêm để mọi người kính nễ. &lt;strong&gt;Sa Di sớ chép: &lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;“&lt;em&gt;vị hữu oai khả uý, hữu nghi khả kính, nội hoài sư tử chi đức, ngoại hiện tượng vương chi oai&lt;/em&gt;”&lt;/strong&gt;[1]&lt;strong&gt;, nghĩ là &lt;/strong&gt;có uy đáng sợ, có nghi đáng kính, trong chứa cái đức uy hùng như sư tử, ngoài bày cái dáng chững chạc như tượng vương, đó &lt;em&gt; &lt;/em&gt;là  nghi lễ của một vị thầy. Nghi lễ Phật giáo còn là những nghi thức,  những giọng điệu, câu văn để ứng dụng khi hành lễ sao cho hợp với thời  gian, không gian. Căn cứ danh nghĩa trên đây, cho nên khi ta nói đến  nghi lễ là nói đến nhiều khía cạnh trong một tổ chức tôn giáo, chứ không  chỉ có riêng việc tán tụng mà thôi, bao gồm Lễ nhạc, Lễ tụng, Lễ khí,  Lễ nghi, Lễ bái, Lễ phục, Lễ đường vv... Như vậy, nghi lễ Phật giáo là  một khái niệm rất phổ quát trong tất cả các hoạt động của Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2. Nghi lễ Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy dân tộc Việt Nam&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Kể từ khi Phật giáo được du nhập vào nước ta đã nhanh chóng bắt rễ  cùng với dân tộc. Qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo Việt Nam  cũng chịu cảnh thịnh suy theo vận mệnh của đất nước. Có những triều đại  Phật giáo trở thành quốc giáo như thời Lý – Trần nhưng có những thời kỳ  Phật giáo bị bao pháp nạn xảy ra như pháp nạn năm 1963, nhưng Phật giáo  Việt Nam vẫn tồn tại và có một vị trí nhất định trong lòng dân tộc. Từ  xưa đến nay, Phật giáo Việt Nam nói chung và nghi lễ Phật giáo đã hội  nhập, giao lưu, tiếp biến nhưng luôn gắn liền với nền văn hóa dân tộc  Việt Nam một cách hài hòa như nước với sữa. Do chịu ảnh hưởng từ Phật  giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa, cùng với văn hóa bản địa, Phật giáo  Việt Nam tiếp nhận những cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến nhưng  vẫn có bản sắc riêng của mình nhất là về mặt Nghi lễ Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo Thượng tọa Thích Giác Liên nhận định: &lt;em&gt;“Nghi lễ được hình  thành từ rất sớm trong đời sống con người. Các nhà nghiên cứu xác định  các nghi lễ xã hội vốn đã được thể hiện khởi đầu từ thời đại đồ đá mới   cách đây khoảng 10.000 năm. Theo sách Chu Lễ, sách Công Dương truyện,  sách Hán Thư nói về cách thực hiện nghi lễ rất chi tiết từ giao tế đến  đối nhân xử thế và vô số nghi lễ kể cả nghi thức tôn giáo. Như vậy, nó  đã có một lịch sử lâu dài, đa dạng phong phú, tạo nên một nền văn hóa  tín ngưỡng, tôn giáo của từng dân tộc.”&lt;strong&gt;[2]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ở các triều đại quân chủ của chế độ phong kiến Việt Nam xưa có hẳn  một bộ chuyên phụ trách về các lễ nghi của triều đình cũng như của quốc  gia đó chính là Bộ Lễ. Theo Thượng tọa Thích Lệ Trang thì: &lt;em&gt;“Bộ Lễ  giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, áo mũ, ấn  tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chầu  mừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng tục, đạo đức, giáo  phường, đồng văn nhã nhạc.&lt;/em&gt;”[3] Như vậy là Bộ Lễ đã lo rất nhiều trong việc phụng sự cho một đất nước.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cha ông ta ngày xưa đã xem trọng việc lễ nghi đến nỗi khuyên dạy người học trò là: &lt;em&gt;“Tiên học lễ, hậu học văn”&lt;/em&gt;,  nghĩa là người học trò trước hết phải học lễ nghi sau đó mới học văn  hóa. Có thể hiểu rằng lễ nghi ở đây chính là đạo đức của con người phải  thực hành những chuẩn mực, những phép tắc mà xã hội đã đặt ra, mà lễ  nghi này bắt buột ai cũng phải học để có cách ứng xử đúng mực trong xã  hội. Một con người có học thức trước hết phải là người hoàn thiện chính  bản thân mình qua những khuôn phép mà xã hội đã quy định. Ví dụ như: làm  dân phải trung thành với nước, làm trò phải kính thầy, làm con thì phải  hiếu, đó là sự chuẩn mực của xã hội còn không thì sẽ bị lệch chuẩn mà  sự lệch chuẩn nào cũng bị xã hội lên án. Phải nói rằng người có văn hóa  là một người có lễ nghi và &lt;em&gt;“một xã hội văn minh phải là một xã hội có lễ giáo”&lt;/em&gt;. &lt;em&gt;“Quốc có quốc pháp, gia có gia phong”&lt;/em&gt;, những quy định, lễ giáo, nguyên tắc của một nước được đặt ra để giữ gìn an ninh xã hội của một quốc gia đó là &lt;em&gt;“quốc pháp”&lt;/em&gt;. Những quy định, phép tắc trong một dòng họ, một gia đình đưa ra để mọi người trong gia đình theo đó mà thi hành là &lt;em&gt;“gia phong”&lt;/em&gt;.  Vì thế người xưa ít có ai dám vượt khỏi vòng lễ giáo. Chính vì vậy mà  lễ nghi luôn gắn liền với sự nghiệp trồng người của cả một dân tộc. Một  dân tộc phát triển không phải kể đến cái đức của con người trong nước đó  mà cái chính là thể hiển ở lễ nghi.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Với một quốc gia là vậy, thì đối với một tôn giáo lớn như Phật giáo thì lễ nghi được đặt lên hàng đầu.  &lt;em&gt;“Đạo  Phật, ngoài kho tàng triết lý sâu sắc còn có âm nhạc, lễ nghi để thức  tỉnh lòng người bỏ mê quay về bờ giác. Dùng lễ nhạc để ca ngợi công đức  chư Phật, chư Bồ tát, đồng thời còn là cách để diễn bày chân lý vô  thường, vô ngã và giá trị tự giải thoát.”&lt;/em&gt;[4] Những điều đó được gọi  là nghi lễ Phật giáo, nó không những chứa đựng triết lý sâu xa trong  từng lời từng câu của lễ nhạc mà còn thể hiện ở hình thức bày biện, cách  tổ chức sắp xếp của một pháp hội sao cho đúng thời gian, đúng không  gian, đúng hoàn cảnh, đúng cách thức để tăng thêm tính uy nghiêm mà lại  mang đậm nét tâm linh của đạo Phật. Xuất phát từ nhu cầu tâm linh của  con người, cũng như nét đặc thù về hình thức và nội dung mà nghi lễ Phật  giáo đã chuyển biến theo từng thời đại. Sự cần thiết của nghi lễ Phật  giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo nói chung là vô cùng quang  trọng trong tiến trình truyền bá giao lưu và tiếp biến để Phật giáo ngày  càng phát triển phù hợp với thời đại nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng  của Phật giáo Việt Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3. Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và  nghi lễ Phật giáo nói chung trong tiến trình truyền bá giao lưu và tiếp  biến&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.1. Nghi lễ tạo nên hình thức đa dạng, độc đáo của Phật giáo&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hiện nay, khi trình độ công nghệ khoa học phát triển vượt bậc đã mở  ra những cơ hội và thách thức mới cho thế giới thì đạo Phật cũng phải  phát huy toàn lực khả năng của mình trên tất cả mọi lĩnh vực mà nghi lễ  Phật giáo đóng vai trò rất quan trọng không thể thiếu được trong sự tồn  tại và phát triển của Phật giáo. Nghi lễ thể hiện hình thức của Phật  giáo thông qua sự tổ chức, các lễ hội, các pháp hội, đạo tràng… mỗi khi  cuộc lễ hay buổi lễ nào trong ngôi nhà Phật giáo nhất là những khi cung  nghinh tượng Phật, Xá lợi Phật, thuyết pháp, cung nghinh chư tôn Giáo  phẩm ... Chúng ta nhận thấy cũng như cảm nhận ngay trong ấy khá phần  trang nghiêm và long trọng. Cho nên trong Phật giáo mỗi khi buổi lễ cung  nghinh thường sử dụng lọng tràng, bê tích, nhạc lễ, hương án…&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự sắp xếp trang trí cho đúng lễ nghi trong từng pháp hội là khác  nhau về hình thức. Ví dụ như tổ chức buổi lễ vía Bồ tát Quan Thế Âm thì  phải tôn trí tôn tượng Bồ tát Quan Thế Âm chứ không thể tôn trí tượng Bồ  tát Phổ Hiền được. Cách sắp xếp nhân lực cho đúng với đạo tràng cũng  khác nhau, như đại giới đàn thì hòa thượng đàn đầu phải là người có giới  đức trang nghiêm, có công phu tu tập, có uy tín đối với giáo hội và  được giới tử cũng như quần chúng tin cậy, được giáo hội giao phó cho  trọng trách lớn ấy. Đối với một pháp hội cầu siêu cho những chiến sĩ  cũng được tổ chức đúng với không gian tâm linh. Không gian tâm linh ở  đây được nói đến là có thể tổ chức ở chùa, tu viện, thiền viện hoặc  nghĩa trang liệt sĩ nhưng dù ở đâu cũng phải đúng với nghi lễ của Phật  giáo. Trong pháp hội đó phải mang tính tâm linh cao. Sự chuẩn bị từ khâu  trần thiết, trang trí không gian, cách thức tổ chức, những pháp khí cần  thiết, cung an chức sự cho từng người tham gia, hình thức phục sức của  từng người cũng như nghi lễ của pháp hội đó là hình thức của pháp hội  nhưng nó chính là hình thức đa dạng độc đáo của Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hình thức được thể hiện qua sự hoành tráng của việc tổ chức, cách  thức bố trí vật dụng cho lễ hội một cách hợp lý, chương trình làm việc  logic, thành phần tham dự của chư tôn giáo phẩm cùng chính quyền địa  phương và đặc biệt là số lượng người tham dự trong một pháp hội. Các yếu  tố tạo nên hình thức rất đa dạng nhưng quy cho cùng là phương tiện để  tạo nên một pháp hội của Phật giáo và hình thức đó đánh giá tầm quan  trong của pháp hội đó như thế nào. Nói chung thông qua hình thức mà quần  chúng tiếp cận với đạo Phật một cách nhanh chóng hơn. Tất cả mọi sự vật  hiện tượng đều có hai mặt là nội dung và hình thức, trong đó hình thức  và nội dung có sự tương quan mật thiết với nhau. Nếu chỉ xem trọng nội  dung mà bỏ qua hình thức thì cũng không hoàn mỹ được. Đạo Phật không chỉ  có nội dung mà hình thức cũng được chú trọng, với sự phát triển của xã  hội thì hình thức của đạo Phật cũng thay đổi để thích ứng theo từng hoàn  cảnh ngõ&lt;em&gt;“hầu góp phần trong sự cấu thành muôn vàn nét đẹp hài hòa cho Phật giáo Việt Nam ngày càng sáng ngời rực rỡ hơn”&lt;/em&gt;.[5]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.2. Nghi lễ thể hiện nội dung giáo lý, triết học của Phật giáo&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;            Đối với hình thức về nghi lễ Phật giáo có thể thay đổi  qua tiến trình giao lưu và tiếp biến thì nội dung triết học hay giáo lý  của Phật giáo cũng được thể hiện qua nội dung nghi lễ cũng theo thay đổi  theo thời gian. Tất cả giáo lý của nhà Phật được gói gọn trong tam tạng  kinh điển là kinh, luật và luận. Trong đó kinh được chia ra mười hai  phần giáo:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Trường hàn, trùng tụng tinh cô khởi&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Thí dụ, nhân duyên dữ tự thuyết&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bổn sanh, bổn sự vị tằng hữu&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Phương quảng, luận nghị cập ký biệt.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Mười hai phần giáo này chứa đựng tất cả Giáo lý hành quả để Tăng Ni  ứng dụng trong sự hành trì tu tập. Bên cạnh đó những thiền môn quy cũ  trong chốn tòng lâm cũng như sự hành nghi trong sinh hoạt hằng ngày đã  tạo nên nội dung của triết lý Phật giáo. Triết lý của Đạo Phật không chỉ  là tam tạng kinh điển của Phật giáo mà còn thể hiển trong đời sống  thông qua những hành động thiết thực như việc hành trì giới luật, sự tu  tập thiền định, sự tuân thủ thanh quy chốn thiền môn, cũng như thời khóa  tụng niệm, lễ Phật, sám hối... Tất cả những sự hành trì của Tăng Ni có  kết quả hay không thể hiện ở phong cách, đạo đức và lối sống của họ để  minh chứng cho triết lý của Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thực tế chúng ta thấy và nhận định rằng : &lt;em&gt;“Nghi lễ rất bao la”&lt;/em&gt;,  nó luôn bao gồm nhiều lãnh vực nhưng triết học Phật giáo chứa đựng  nhiều nhất vẫn là giáo lý của nhà Phật. Giáo lý đó được chư tăng gìn giữ  đọc tụng hành trì theo thời gian, giáo lý ấy đã được âm nhạc hóa trở  thành lễ nhạc của Phật giáo. Nền lễ nhạc của nghi lễ Phật giáo ngày xưa  đã phát triển đến một trình độ khá cao, điều này ta có thể bắt gặp trong  các tài liệu xưa của chư tổ để lại. Thế nhưng, ngày nay lễ nhạc đã bị  thay đổi và mai một đến mức trầm trọng, nói cụ thể hơn là không theo kịp  với trình độ phát triển của thời đại.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ví dụ như ngày xưa nước ta dùng chữ Hán thì khi tán tụng lên có người  sẽ hiểu nhưng ngày nay tán tụng tiếng Hán lên chẳng ai hiểu gì vì trình  độ Hán văn của người Việt bây giờ đa phần là không biết. Vì vậy sao ta  không dịch ra chữ quốc ngữ để tán tụng khi hành lễ. Nói đi cũng phải nói  lại, chữ quốc ngữ đôi khi cũng không diễn đạt hết những gì của chữ Hán,  cho nên rất hạn chế đối với người tụng lẫn người nghe. Dù tán tụng có  hay đi nữa nhưng người nghe không hiểu gì thì hiệu quả của một buổi pháp  hội đã giảm đi rất nhiều. Như thế thì làm sao có thể thâm nhập được  chân lý vi diệu mà chư Phật và chư tổ đã để lại. Vì vậy mà vai trò của  người làm công tác nghi lễ ngày nay là rất quan trọng, làm thế nào để  người nghe có thể hiểu được giáo lý của Phật đà bên cạnh đó vẫn giữ gìn  được truyền thống cao đẹp của chư tổ ngày xưa. Đối với nghi lễ Phật giáo  hình thức rất cần thiết nhưng nội dung là quan trọng vì nó thể hiện cái  hồn của Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.3. Nghi lễ thể hiện tính văn hóa của Phật giáo và dân tộc Việt Nam&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nói đến nghi lễ là nói đến một hình thái văn hóa, nét văn hóa đó thể  hiển trong nếp sống từ gia đình cho đến xã hội, chứ không chỉ đơn thuần  là nghi lễ cúng bái trong các tự viện. Khi Phật còn tại thế, ngài đã  khéo léo dùng vô số phương tiện để hóa độ chúng sanh trên tinh thần &lt;em&gt;“tùy duyên bất biến”&lt;/em&gt;.  Chư tổ đã tiếp nối không ngừng tùy thuận với tín ngưỡng tâm linh của  quần chúng nhân gian để ứng dụng vào việc tùy duyên giáo hóa.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nghi lễ thể hiện tính văn hóa của Phật giáo và dân tộc là sự giao lưu  của hai nền văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc Việt Nam với nhau.  Thông qua giao lưu đã xảy ra sự tiếp biến của hai nền văn hóa, Phật giáo  tùy thuận với tín ngưỡng dân gian Việt Nam nhưng bên cạnh đó văn hóa  dân tộc Việt Nam đã tác động ngược lại với văn hóa Phật giáo. Sự tiếp  biến ở đây thể hiện ở kiến trúc chùa chiền, điêu khắc tranh tượng,  lối  sống đạo đức, nghi thức cúng bái… nhưng phải nói rằng nét nhạc cổ điển  truyền thống đã đi vào nghi lễ của Phật giáo một cách rõ rệt nhất được  gọi là nghi lễ truyền thống. Nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy  theo từng vùng miền, từng dân tộc mà thích ứng với vùng miền dân tộc ấy  tạo nên nét văn hóa Phật giáo hòa quyện vào văn hóa dân tộc.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Các nghi lễ miền Bắc dính dáng đến văn hóa Trung Hoa rất nhiều, bên  cạnh đó giọng tụng niệm của miền Bắc lại mang phong cách của ca trù, hát  chèo, chầu văn, quan họ. Khi Phật pháp được lưu truyền đến Huế thì Phật  pháp ở cố đô Thăng Long đã thịnh hành một thời gian khá dài rồi. Miền  Trung thì thời tiết khắc nghiệt, con người phải có năng lực phi thường,  chịu khó học hành, có sự thích nghi theo hoàn cảnh thì mới sinh tồn  được. Khi Phật giáo đến Huế thì hội nhập cùng văn hóa cung đình và văn  hóa Chăm Pa nên nghi lễ Phật giáo mang nét uyển chuyễn của dòng sông  Hương hiền hòa thơ mộng. Đi vào miền Nam qua đèo Hải Vân – Đà Nẵng thì  ảnh hưởng văn hóa Chăm Pa nên lễ nhạc Phật giáo có nét đượm buồn. Đến  Bình Định – Phú Yên lễ nhạc mang tính thê lương vì cuộc sống khắc khổ.  Miền Nam là vùng đất mới có âm hưởng mới mẻ đặc biệt là dân ca cải lương  in đậm vào nghi lễ cúng bái của người dân cũng như nghi lễ của Phật  giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;            Nếu văn hóa cồng chiên của Tây Nguyên được xem là di sản  văn hóa phi vật thể của thế giới thì văn hóa Phật giáo cũng có văn hóa  riêng. Trong một pháp hội của Phật giáo ta thấy có không gian văn hóa đó  chính là dưới mái chùa, hình thức và nội dung của nghi lễ Phật giáo bao  gồm văn hóa vật thể và phi vật thể. Văn hóa vật thể ở đây là các pháp  khí như: tượng, chuông, trống, mõ, tang đẩu, linh, khánh, pháp phục… văn  hóa phi vật thể như: triết lý của Phật giáo thể hiện trong nội dung  tụng niệm, giọng điệu tụng niệm, cách thức hành lễ…những điều đó không  những là văn hóa của Phật giáo mà còn là văn hóa của dân tộc Việt Nam  nữa. Chính vì vậy mà nét văn hóa Phật giáo và nét văn hóa dân hóa hòa  quyện vào nhau đến nỗi bây giờ nếu ai đó muốn đi tìm lại nét văn hóa dân  tộc cứ đi vào những nơi chùa chiền nơi đó sẽ còn lưu giữ văn hóa một  thời của cha ông. Giữ gìn bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng chính  là bảo vệ giữ gìn nét văn hóa dân tộc Việt. Vì thế mà Phật giáo và dân  tộc luôn luôn đồng hành qua bao thăng trầm của lịch sử, sự hòa quyện đó  tạo nên nét độc đáo của đạo Phật ở Việt Nam được gọi là Phật giáo Việt  Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.4. Nghi lễ Phật giáo là một phương tiện hữu hiệu nhất trong hoằng pháp&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo tinh thần tùy duyên hóa độ, chư tổ ngày xưa đã khéo léo vận dụng  giáo lý của Đức Phật mà lập ra những nghi lễ phù hợp với bản sắc dân  tộc phổ biến trong từng bài kệ, câu kinh thông qua những giai điệu âm  nhạc dân tộc một cách hài hòa để khai thị chúng sinh ngộ tri kiến Phật.  Đồng thời đã hình thành một bộ môn nghi lễ được áp dụng rộng rãi trong  chốn thiền môn, giúp cho sự ứng phó đạo tràng được hài hòa và làm tăng  thêm sự gắn bó giữa đạo và đời. Chính vì thế mà lời Phật, Bồ tát và chư  vị tổ sư đã lan rộng khắp mọi miền đất nước chứ không gói gọn trong phạm  vi cửa thiền. Nghi lễ Phật giáo thể hiện sự tôn kính của mọi người đối  với Tam bảo, đây là một phương tiện hữu hiệu nhất trong quá trình hoàng  pháp, nhưng phải khéo léo úng dụng phương tiện này. Nếu sử dụng nghi lễ  để tuyên dương chánh pháp thì đó là một phước đức nhưng nếu sử dụng nó  để cầu lợi dưỡng cho riêng mình thì tai hại vô cùng. Nếu không khéo vận  dụng uyển chuyển rất dễ gây ngộ nghận  cho người đời rằng nghi lễ Phật  giáo là mê tín dị đoan. Các hình thức cúng kiến cũng gây nên nhiều tốn  kém về tiền của, sức lực và thời gian, cho nên người làm công tác nghi  lễ cũng phải biết cân nhắc sao cho hợp lý để tránh lãng phí. Những nghi  lễ thực hiện trong các pháp hội phải thực thi cho đúng lúc, đúng nơi,  đúng hoàn cảnh chứ không thể tùy tiện lúc nào muốn thực hiện cũng được,  như vậy sẽ làm tăng thêm sự uy nghiêm của nghi lễ Phật giáo. Thiết nghĩ  giáo hội cũng nên đấu tranh loại trừ những hành vi tiêu cực lạm dụng lễ  nghi hình tướng quá độ. Cái chính không phải là hình thức hay nội dung  trong nghi lễ mà là nội tâm của người làm công tác nghi lễ. Nội tâm đó  được thể hiện qua sự tu tập hành trì công phu của một người tu sĩ có như  thế mới đưa nghi lễ áp dụng trên con đường hoằng pháp hầu để góp phần  xây dựng bảo trì và luôn chỉnh trang nền Nghi lễ Phật giáo đậm đà bản  sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đạo Phật  không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện  nghi lễ, đó là phương tiện hoằng pháp hữu hiệu để đưa người vào đạo Phật  một cách dễ dàng. Nghi lễ còn là sự biểu hiện của nét văn hóa Phật giáo  cùng với nền văn hóa của Việt Nam tạo nên bản sắc văn hóa Phật giáo  Việt Nam.  Nghi lễ Phật giáo là một pháp môn tu tập cũng có tác dụng  chuyển hóa khổ đau. Vì thế, Nghi lễ cũng là vấn đề quan trọng và có  nhiều lợi lạc trong đạo Phật. Vậy kẻ hành giả cần phải học tập và hiểu  rõ ý nghĩa những vấn đề thuộc về nghi lễ trước khi hành lễ. Cần tránh  những tiêu cực, rườm rà trong sự tổ chức, cho đến hình thức cũng như nội  dung để phù hợp với thời đại nhưng không đánh mất bản sắc văn hóa Phật  giáo Việt Nam. Trong tiến trình truyền bá, giao lưu và phát triển của  đạo phật thì nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo  nói chung là vô cùng cần thiết. &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;hr style="margin-left: 0px; margin-right: 0px;" size="1" width="33%"&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[1] &lt;em&gt;Sa Di Luật Giải&lt;/em&gt;, Nhà xuất bản Tôn Giáo, năm 2006, tr. 173.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[2] Thượng tọa Thích Giác Liêm, Vài nét về Lễ Nghi và Nghi Lễ Phật Giáo http://tuvienhuequang.com&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[3] Thích Lệ Trang, Lễ nhạc phật giáo Việt Nam, http://gdpttunghiem.com  &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[4] Thích Lệ Trang, Lễ nhạc phật giáo Việt Nam, http://gdpttunghiem.com&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[5] Thích Chánh Đức, Nghi lễ Phật giáo Việt Nam xưa và nay, http://www.buddhistedu.org&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-7218978892724723656?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/7218978892724723656/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=7218978892724723656' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/7218978892724723656'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/7218978892724723656'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2011/05/su-can-thiet-cua-nghi-le-phat-giao-viet.html' title='Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo nói chung trong tiến trình truyền bá, giao lưu và tiếp biến'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-YNz-KKZ5Q1w/Td-N-3PiyrI/AAAAAAAAE1o/r26i_ymwN-A/s72-c/lyntlntpgbt7.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-407275308348443672</id><published>2011-05-27T18:19:00.002+07:00</published><updated>2011-05-27T18:38:52.155+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nhân vật'/><title type='text'>Ảnh hưởng từ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam năm 1963</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-uGVurGHNcfQ/Td-M4I3ED1I/AAAAAAAAE1g/q4p58_4ymLM/s1600/images-2011-quy2-ThichQuangDuc_1__755338527.jpg"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 318px; height: 183px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-uGVurGHNcfQ/Td-M4I3ED1I/AAAAAAAAE1g/q4p58_4ymLM/s400/images-2011-quy2-ThichQuangDuc_1__755338527.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5611358556805926738" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;Thích Pháp Như&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;DẪN NHẬP&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Nếu có một ai đó có một ngày bước qua ngã tư đường Nguyễn Đình Chiểu  và Cách Mạng Tháng Tám, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, trong thấy một  bảo tháp phía trước Ủy ban Nhân dân quận 3, bạn có tự hỏi đó là tháp của  một vị tu sĩ nào không? Xin thưa đó là tháp của một vị Bồ tát ạ. Mà  trong thời hiện đại này làm gì có Bồ tát ở thế gian? Vậy mà có đấy bạn  ạ. Vị Bồ tát ấy không phải như những vị Bồ tát ta gặp trong kinh điển  hay phim ảnh mà là một vị Bồ tát giữa đời thường, là một con người như  bao nhiêu con người bình thường khác nhưng là một nhà sư đã tự thiêu cho  đạo pháp để đòi bình quyền tôn giáo trong Pháp nạn năm 1963 của chính  quyền Ngô Đình Diệm. Điểm đặc biệt là Bồ tát đã để lại một Trái tim Bất  diệt cho muôn đời sau về hạnh vô úy và lòng trắc ẩn mà nó kết tinh từ sự  tu tập và tình thương vô bờ bến khi thấy chúng sinh ngập trong bể khổ.&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng không phải ai cũng biết về cuộc đời  tu hành lặng lẽ mà đầy huyền thoại của vị Bồ tát này. Đó là Hòa thượng  Thích Quảng Đức, người đã thắp lên ngọn lửa từ bi thức tỉnh lòng người  và là ngọn đuốc sang dẫn dắt bao Tăng Ni Phật tử trong cuộc tranh đấu  đòi bình quyền tôn giáo của chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. &lt;em&gt;Lịch  sử vẫn là lịch sử, không ai có thể chối cãi được, ngoại trừ những kẻ  ngoại đạo, đã và đang tìm mọi cách để vu cáo, xuyên tạc lịch sử hầu đánh  lừa các thế hệ mai sau.&lt;strong&gt;[1]&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài: &lt;em&gt;“Ảnh hưởng từ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam năm 1963.”&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự hy sinh của Bồ tát không có bút mực nào để viết hết, không có lời  văn nào để tả cho chính xác. Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết người  viết chỉ đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến cuộc tự thiêu của Bồ tát và  phản ứng của chính quyền Ngô Đình Diệm, cũng như dư luận truyền thông,  chính trị trong và ngoài nước xung quanh vụ tự thiêu của Bồ tát. Bên  cạnh đó còn đề cập đến những vụ tự thiêu của Tăng Ni và Phật tử đã noi  gương Ngài xả thân hy sinh vì đạo pháp khi chính quyền Ngô Đình Diệm vi  phạm Thông cáo chung sau khi đã ký kết. Để bảo tồn đạo pháp và dân tộc  không biết bao nhiêu người tự thiêu, bao nhiêu người ngã xuống, bao  nhiêu người bị cướp xác, bắt bớ, tù đày, đánh đập, khảo tra… từ đó mới  thấy được tinh thần của họ đối với đạo pháp và dân tộc.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;NỘI DUNG&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1. TIỂU SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CUỘC TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1.1. Tiểu sử Hòa thượng Thích Quảng Đức &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh Lâm Văn Tức, ông sinh năm 1897  tại làng Hội Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, thuộc miền Trung  Việt Nam, trong một gia đình có bảy anh chị em, thân phụ là Lâm Hữu Ứng  và mẫu thân là Nguyễn Thị Nương.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm lên bảy tuổi, cậu bé Lâm Văn Tuất được hòa thượng Như Đại Nghĩa  Hoằng Thâm, vừa là thầy bổn sư, vừa là cậu ruột nhận làm con chính thức,  nên lấy tên là Nguyễn Văn Khiết. Sau đó, ngài được cho xuất gia tu hành  với pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hạnh Pháp và pháp hiệu là Quảng Đức.  Ngoài thiền sư Hoằng Thâm, Thích Quảng Đức còn tham học với thiền sư  Thiện Tường và Phước Tường.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm mười lăm tuổi Lâm Văn Tức thọ giới Sa Di, năm hai mươi tuổi thọ  Tỳ Kheo giới lấy tên là Thích Quảng Đức. Thọ giới xong hòa thượng vào  một ngọn núi ở Ninh Hòa phát nguyện tịnh tu ba năm.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau quãng thời gian sống biệt lập, ông bắt đầu du hành khắp miền  Trung để giảng pháp. Sau 2 năm ông trở lại nhập thất tại chùa Sắc Tứ  Thiên gần thành phố Nha Trang.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1932, ông được bổ nhiệm làm chức kiểm tăng tại chi hội Phật giáo  Ninh Hòa, sau đó nhận nhiệm vụ kiểm tăng trong tỉnh Khánh Hòa. Lúc tu  hành ở Khánh Hòa, ngài còn trẻ tuổi nhưng đã cống hiến rất nhiều cho  Phật giáo địa phương.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong suốt thời gian ở miền Trung Việt Nam, ông đã tiến hành kiến tạo  và trùng tu 14 ngôi chùa. Các văn kiện còn lưu giữ ở những ngôi chùa  vùng này đã kể lại câu chuyện chính Bồ tát Thích Quảng Đức là người đã  xin phép và tổ chức thực hiện xây dựng, trùng tu nhiều ngôi chùa ở khu  vực. Trong đó có ngôi chùa Thiên Lộc được xây dựng trên một ngọn núi ở  Ninh Hòa mà ngài từng nhập thất tịnh tu trước đó. Và cũng tại ngôi chùa  này, vào khoảng năm 1935-1936, ngài đã đúc hai chiếc chuông lớn vẫn còn  đến ngày nay.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1934, rời Khánh Hòa vào miền Nam để giáo hóa, ông cũng từng đến  Campuchia hai năm để học hỏi và nghiên cứu kinh điển theo truyền thống  Theravada. Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, ông  đã khai sơn và trùng tu 17 ngôi chùa. Như vậy, ông đã có công xây dựng  hoặc trùng tu tất cả 31 ngôi chùa. Các tài liệu cũ cho thấy tính cách Bồ  tát Thích Quảng Đức rất ngăn nắp. Những việc quan trọng như xin phép  xây dựng, trùng tu chùa, hoạt động quyên góp của phật tử đều được Bồ tát  ghi chép lại rất cẩn thận. Chính những tài liệu này về sau đã giải mã  hoạt động phật sự nhiều công đức trong giai đoạn đầu tu hành của ngài ở  quê nhà.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngôi chùa cuối cùng nơi ông trụ trì là chùa Quan Thế Âm, trước đây là  đường Nguyễn Huệ, quận Phú Nhuận, Gia Định, nay con đường này đã đổi  thành chính tên của ông là Thích Quảng Đức. Đây là một ngôi chùa được  người dân địa phương lập từ năm 1920 để thờ Quan Thế Âm Bồ tát. Ngoài  tên Quán Thế Âm tự, chùa còn được quen gọi là chùa Bạch Lô và chịu cảnh  tiêu điều, lạnh lẽo hương khói trong những năm tháng nửa đầu thế kỷ 20  đầy biến động của đất nước.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1959, bước chân hoằng hóa của Bồ tát Thích Quảng Đức đã có duyên  dừng chân lại ngôi chùa Quán Thế Âm. Và ngài đã bỏ ra rất nhiều tâm  huyết, công sức sửa chữa lại chùa cho đến khi xảy ra sự đàn áp Phật giáo  ngày càng nặng nề của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ông đã từng giữ chức  vụ Phó trị sự và Trưởng ban nghi lễ của Giáo hội Tăng già Nam Việt trong  một thời gian khá lâu. Trước đó, ông có lúc đã nhận nhiệm vụ trụ trì  chùa Phước Hòa, trụ sở đầu tiên của Hội Phật Học Nam Việt. Khi trụ sở  này đời về chùa Xá Lợi, ông xin thôi việc để có đủ thời gian an tâm tu  niệm.[2]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ông mất ngày 11 tháng 6 năm 1963, trong một cuộc tự thiêu tại ngã tư  đại lộ Phan Đình Phùng và phố Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn (nay là ngã tư  Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám) để phản đối chế độ độc tài của  Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Cuộc tự thiêu của ông đã là một ngọn  lửa thiêng un đúc tinh thần yêu tự do hòa bình dân tộc và bình đẳng tôn  giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1.2. Nguyên nhân dẫn đến cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đạo Phật đã in sâu vào lòng dân tộc từ khi mới du nhập vào Việt Nam.  Vào thời điểm năm 1963, khoảng 70-90% dân số nước ta theo đạo Phật,  trong khi Tổng thống Ngô Đình Diệm lại là con chiên của Công giáo, chính  quyền đã theo đuổi những chính sách mà các nhà sử học cho là rất thiên  vị. Cụ thể, chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã thiên vị Công giáo về các mặt  dịch vụ công cộng cùng với các vị trí trong quân đội cũng như cắt đất,  sắp đặt thương mại và giảm thuế. Một lần, Tổng thống Diệm đã nói với một  quan chức cấp cao của mình mà quên mất rằng ông ta theo đạo Phật: &lt;em&gt;"Hãy đặt những cấp dưới theo đạo vào các vị trí nhạy cảm. Họ có thể tin được&lt;/em&gt;".  Nhiều sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã cải sang đạo Thiên  Chúa vì nghĩ rằng viễn cảnh quân đội sẽ phụ thuộc vào tôn giáo này. Thêm  vào đó, vũ khí dành cho lực lượng dân quân trong ấp chiến lược chống  cộng thì chỉ được phát cho những người theo đạo Chúa. Một số cha xứ thậm  chí còn có quyền chỉ huy quân đội riêng của mình, và đã có những cưỡng  bức cải đạo cũng như cướp bóc và tấn công chùa chiền tại một số khu vực  trong khi chính phủ cố tình làm ngơ. Một số ngôi làng mà phần đông dân  cư theo Phật giáo phải cải đạo hoặc bị cưỡng ép tái định cư. &lt;em&gt;"Tình trạng riêng"&lt;/em&gt;  được áp đặt đối với Phật giáo từ thời Pháp cai trị, vốn bắt buộc phải  có sự cho phép chính thức từ chính quyền mới được tổ chức các hoạt động  Phật giáo nơi công cộng, nay vẫn không được Tổng thống Diệm bãi bỏ. Giáo  dân trên thực tế là những người được miễn thuế (mặc dù không chính  thức) và họ được nhận phần lớn viện trợ từ đồng minh Hoa Kỳ. Nhà thờ là  những địa chủ lớn nhất cả nước và đất đai sở hữu bởi nhà thờ cũng được  miễn thuế. Lá cờ vàng-trắng của Vatican được treo ở công cộng trong suốt  các sự kiện lớn ở miền Nam Việt Nam. Năm 1959, Tổng thống Diệm cung  hiến đất nước mình cho Đức mẹ Maria với niềm tôn kính Đức mẹ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Vụ khủng hoảng chính trị ở Miền Nam Việt Nam bắt nguồn từ lệnh cấm  treo cờ Phật Giáo nhân mùa Phật Đản, Phật lịch năm 2507 (ngày 8–5-1963)  của chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong khi chỉ vài ngày trước đó, giáo dân  Thiên Chúa giáo được cho phép treo cờ Vatican trong một buổi lễ tấn  phong Tổng giám mục xứ Huế của Ngô Đình Thục, anh trai Ngô Đình Diệm.  Ông Ngô Đình Thục, nuôi tham vọng được thăng chức Hồng Y, ra lệnh cho  chính quyền địa phương cấm Phật tử treo cờ Phật giáo trong dịp lễ Phật  Đản. (Hành động này tương tự như một vị Hoà Thượng áp lực chính quyền  cấm giáo dân đạo Thiên chúa treo cờ Vatican trong dip lễ mừng Chúa Giáng  Sinh). Các Tăng Ni, Phật tử cảm thấy bị  nhục mạ, tìm cách chống đối,  kể cả Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân đòan I. Đúng ngày Phật Đản,  Thượng tọa Thích Trí Quang đọc diễn văn tại chùa Từ Đàm, với sự hiện  diện của khá đầy đủ các viên chức chính quyền và quân sự, đòi hỏi bình  quyền tôn giáo. Tối đó, một đám đông Phật tử Huế phản đối lệnh cấm, bất  chấp chính phủ bằng việc diễu hành ngoài trụ sở đài phát thanh với cờ  Phật giáo trên tay, để yêu cầu phát lại bài diễn văn của Thầy Trí Quang  và kêu gọi bình đẳng. Các lực lượng chính quyền đã phóng hỏa vào đám  đông biểu tình. Kết quả cuộc tàn sát công khai đầu tiên và ghê rợn này  là thấy 7 người chết ngay tại chỗ và 15 người bị thương được ba xe hồng  thập tự chở về điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế. Một người nữa qua  đời tại phòng cấp cứu. Trong số tám người chết, có hai em học sinh bị xe  bọc thép cán mất nửa đầu, một em bị cán mất một phần đầu không nhận  diện được và một em bị mất hẳn đầu.[3] Tuy nhiên trong sách “Công cuộc  tranh đấu của Phật giáo Việt Nam” của tác giả Quốc Tuệ thì nói có chín  người chết và mười bốn người bị thương nhưng chỉ ghi danh sách tám người  bị chết, sau này được Tăng Ni và Phật tử tôn xưng là Thánh Tử Đạo.[4]  Pháp danh và thế danh của tám vị Thánh là:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              1. Tâm Đồng – Đặng Văn Công: 13 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              2. Tâm Thành – Dương Viết Đạt: 13 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              3. Tâm Thanh – Nguyễn Thị Yến: 20 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              4. Tâm Thông – Nguyễn Thị Phúc: 15 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              5. Tâm Hiển – Lê Thị Kim Anh: 17 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              6. Tâm Thuận – Trần Thị Phước Trị: 17 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              7. Tâm Chánh – Nguyễn Thị Ngọc Lan: 12 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;              8. Tâm Tôn – Huyền Tôn Nữ Tuyết Hoa: 12 tuổi&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Lệnh cấm treo cờ Phật Giáo nhân dịp Phật Đản là một sai lầm vô cùng  nghiêm trọng và đây là một ngọn lửa đưa vào thùng thuốc súng để có dịp  bùng nổ, sau bao nhiêu năm vẫn âm thầm âm ỷ, mà chưa có dịp bộc phát.   Sau này,  chính phủ Ngô Đình Diệm và cá nhân ông Nhu tìm cách che đậy  sai lầm của họ bằng cách ngụy biện ràng ông Diệm chỉ cho lệnh cấm treo  cờ nơi công cộng, và phải treo cờ tôn giáo cùng với quốc kỳ Việt Nam  Cộng Hoà, tức cờ vàng ba sọc đỏ tại các chùa chiền. Sai lầm hơn nữa,  Tổng thống Diệm đã từ chối nhận trách nhiệm về thương vong và đổ lỗi cho  "Việt Cộng" khiến cho sự phản kháng càng dữ dội. Không hiểu tại sao anh  em ông Diệm và thuộc hạ có thể thản nhiên, lì lợm chụp cái mũ cộng sản  cho những người tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo. Vì Diệm vẫn miễn cưỡng  chấp nhận 5 yêu sách của Phật tử nên tình hình càng ngày càng căng  thẳng. Bản yêu sách gồm các điểm:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;1. Chính phủ bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;2. Được tự do hành đạo như Công giáo&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;3. Xem xét lại dụ số 10 để không coi tôn giáo như một hiệp hội&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;4. Chấm dứt khủng bố đàn áp Phật giáo&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;5. Bồi thường cho các nạn nhân vụ đài phát thanh Huế và trừng trị kẻ gây đổ máu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Chính quyền Kennedy đã vội chỉ thị cho Truehart phải dùng mọi áp lực  để khuyến cáo chính quyền Ngô Đình Diệm phải ngừng đàn áp Phật Giáo và  phải công khai giải quyết các đòi hỏi của Phật Giáo. Do đó ngày  5/6/1963, Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ được lệnh tiếp xúc với phía  Phật Giáo.              &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tại Sài Gòn lúc đó trụ sở chính của ủy ban Liên Phái Phật Giáo vẫn  đặt tại chùa Xá Lợi, nhưng  quí ngài lãnh đạo Phật giáo trong cuộc tranh  đấu, thường xuyên di chuyển địa điểm họp mật để đặt kế hoạch đấu  tranh.  Đến ngày 9 tháng 6 năm 1963, xuyên qua những lần thảo luận giữa  ủy ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và Ủy ban  Liên Bộ của chính quyền Ngô  Đình Diệm không đi đến thỏa thuận. Trái lại chính quyền Diệm vẫn gia  tăng các cuộc khủng bố, đàn áp Tăng, Ni và Phật Tử. Trong tình hình đó  nếu cứ kéo dài các cuộc đấu tranh bình thường như từ trước đến nay thì  dần dần sẽ bị tan rã vì thiếu hình thức khác lạ để có thể gây xúc động  lương tâm con người. Nên quí ngài lãnh đạo Liên Phái Phật Giáo lúc đó  phải chấp nhận hạnh nguyện xin được tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng  Đức.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2. CUỘC TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC VÀ PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2.1.&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;Hòa thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 10 tháng 6, phát ngôn viên của giới Phật tử tiết lộ cho các nhà báo Mỹ biết rằng &lt;em&gt;"một cái gì đó quan trọng"&lt;/em&gt;  sẽ xảy ra sáng hôm sau bên ngoài đại sứ quán Campuchia ở Sài Gòn. Phần  lớn phóng viên đều không đếm xỉa đến lời nhắn và ngày hôm sau, rất ít  nhà báo xuất hiện. Trong số đó có David Halberstam của tờ &lt;em&gt;New York Times&lt;/em&gt; và Malcolm Browne, lúc đó đang làm trưởng đại diện hãng thông tấn AP tại Sài Gòn.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 11 tháng 6 năm 1963 (nhằm ngày 20 tháng 4 năm Quí Mão), tại ngã  tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Sài Gòn, - (nay là đường Cách Mạng  Tháng Tám và Nguyễn Đình Chiểu TP HCM)- , Hòa thượng Thích Quảng Đức  xuất hiện trong một đám diễu hành bắt đầu từ một ngôi chùa gần đó.  Khoảng 350 Tăng Ni dẫn đầu bởi một chiếc Austin Westminster chia làm hai  nhánh giương cao khẩu hiệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Họ lên án  chính quyền Ngô Đình Diệm vì chính sách kỳ thị Phật giáo và đòi bình  đẳng tôn giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thích Quảng Đức đi ra từ chiếc ô tô cùng với hai nhà sư khác. Một  người đặt một tấm nệm xuống đường còn người kia mở cabin xe và lấy ra  một bình xăng dung tích 5 gallon. Vì đoàn diễu hành đang tạo thành nhiều  lớp vòng tròn xung quanh mình, Thích Quảng Đức bình tĩnh ngồi thiền  trên tấm đệm. Hai nhà sư cùng đi bắt đầu trút xăng lên đầu ông. Thích  Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm: "Nam Mô A Di Đà Phật" trước khi  tự tay châm lửa bằng diêm. Lửa nhanh chóng thiêu rụi áo cà sa và da  thịt của vị hòa thượng, khói đen bốc lên từ cơ thể đang cháy bùng của  ông.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trước khi tự thiêu Hòa thượng Thích Quảng Đức đã để lại lời tâm nguyện: &lt;em&gt;“Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì Chùa Quán Âm Phú Nhuận (Gia Định).&lt;br /&gt;Nhận thấy Phật giáo nước nhà đương lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ  mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị  để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả  tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.  Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt  thành chí nguyện như sau:&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;ol style="text-align: justify;"&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;1.      &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình  Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt  Nam ghi trong bản tuyên ngôn.&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;2.      &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường cửu bất diệt.&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;3.      &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Mong nhờ hồng ân chư Phật gia hộ cho chư Đại  đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố bắt bớ giam  cầm của kẻ gian ác.&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;4.      &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho  Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và  thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại đức Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Nam&lt;/em&gt;&lt;em&gt; Mô Đấu Chiến Thắng Phật&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Làm tại chùa Ấn Quang, ngày mùng 8 tháng 4 nhuần năm Quý Mão&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tỳ kheo Thích Quảng Đức&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Kính bạch&lt;/em&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Phóng viên David Halberstam viết trên tờ &lt;em&gt;New York Times: “I was  to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a  human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head  blackening and charring. In the air was the smell of burning human  flesh; human beings burn surprisingly quickly. Behind me I could hear  the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked  to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to  even think.... As he burned he never moved a muscle, never uttered a  sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people  around him.’’&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tạm dịch: Tôi lại thấy cảnh đó thêm lần nữa, nhưng một lần là đủ lắm  rồi. Ngọn lửa phun ra từ một con người; thân thể ông cháy héo khô dần và  teo nhăn lại, đầu của ông đen dần và hóa than. Trong không khí thoảng  mùi cháy khét của thịt người; loài người có thể cháy nhanh một cách đáng  ngạc nhiên. Từ phía sau tôi có thể nghe tiếng thổn thức của những người  Việt giờ đang tụ tập. Tôi đã quá sốc để khóc, quá bối rối để ghi chép  hay đặt câu hỏi, quá ngỡ ngàng để cả suy nghĩ ... Khi cháy, ông ấy không  hề cử động một cơ bắp nào, không hề bật ra một âm thanh nào, sự điềm  tĩnh của ông thật trái ngược với cảnh những người đang rền rĩ khóc than  xung quanh&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Các phóng viên ngoại quốc đứng gần, xa và trên các tòa nhà cao tầng  để chứng kiến và thực hiện các phóng sự rồi tìm cách lén lút đưa ra nước  ngoài phổ biến .Lực  lương an ninh của Diệm  được điều động đến để trấn  áp và phá hoại cuộc tự thiêu nhưng đều thất bại, vì các Tăng, Ni và  Phật tử quyết bảo vệ bằng cách bao vây thành nhiều vòng trong tiếng niệm  Phật ngân vang cả một bầu trời, có người nằm ngăn cản trước bánh xe cứu  hỏa, xe tăng của lực lượng cảnh sát, Một cảnh sát phi mình vào và phủ  phục trước hòa thượng nhằm tỏ lòng kính trọng. Những người chứng kiến  phần lớn sửng sốt trong yên lặng, số khác thì khóc thét và bắt đầu cầu  nguyện. Nhiều Tăng Ni cũng như người qua đường vì quá bàng hoàng đã quỳ  lạy trước vị hòa thượng đang cháy bừng. Một nhà sư tuyên bố nhiều lần  qua một micrô bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt: "Một nhà sư đã tự thiêu.  Một nhà sư đã trở thành con người tử vì đạo".&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Chừng 10 phút sau thì lửa tàn, Ngài bật ngữa ra, tay vẫn co trước  ngực. Sau này có người kể lại đêm trước tự thiêu, bồ tát dặn dò rằng nếu  tâm nguyện vị pháp thiêu thân và hòa bình cho dân tộc của ngài được  Phật tổ chứng giám, ngài sẽ về cõi Phật trong tư thế nằm ngửa và nguyện  để lại một trái tim xá lợi. Phải chăng tâm nguyện của ngài đã linh ứng?&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Khi ngọn lửa tự thiêu tắt hẳn, hòa thượng Thích Đức Nghiệp (lúc này  là Đại đức Thích Đức Nghiệp) và đồng đạo lấy cờ Phật quấn thi hài Bồ tát  Thích Quảng Đức. Tuy nhiên, lá cờ không thể bọc kín ngài được vì ngài  ra đi trong tư thế tay chắp trước ngực, hai chân vẫn hơi co lại như đang  ngồi thiền. Lúc này, tiếng khóc của các Tăng Ni và dân chúng át cả  tiếng ồn ào, la hét của lực lượng cảnh sát. Đám rước thi hài ngài về  chùa Xá Lợi đã kéo theo một đoàn Tăng Ni, Phật tử và dân chúng dài hàng  cây số. Họ tiễn đưa một Bồ tát đã cung hiến thân mình cho đạo pháp và  hòa bình dân tộc. Sau lễ nhập kim quan, hàng ngàn Tăng, Ni và Phật Tử  ngày đêm tụ tập về chùa Xá Lợi để cầu nguyện và canh phòng chính quyền  Diệm cướp mất thi hài của Ngài.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Lúc 13:30, khoảng 1000 Tăng Ni tập trung trong chùa để họp trong khi  bên ngoài, đám đông sinh viên ủng hộ Phật giáo tập trung giương biểu  ngữ: &lt;em&gt;"Một hòa thượng đã tự thiêu vì 5 yêu cầu của chúng tôi"&lt;/em&gt; và  dàn thành hàng rào xung quanh ngôi chùa. Cuộc họp nhanh chóng kết thúc  và các nhà sư quay trở lại ngã tư nơi Thích Quảng Đức tự thiêu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Buổi chiều cùng ngày, chính quyền Diệm ra lệnh phong tỏa các chùa,  nhất là chùa Xá Lợi, nơi quàng nhục thân cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức.  Khắp các nẻo đường dẫn về Chùa Xá Lợi, cảnh sát được điều động đến để  ngăn chặn làn sóng người đang đổ dồn về chùa Xá Lợi. Khoảng 18:30, 30 Ni  cô và 6 nhà sư đã bị bắt vì tội tổ chức cầu nguyện trên phố bên ngoài  chùa Xá Lợi. Cảnh sát lúc đó đã bao vây ngôi chùa và chặn đứng sự tiếp  xúc với bên ngoài. Những người chứng kiến cảm thấy rằng một cuộc đàn áp  vũ trang sắp xảy ra. Chiều ngày hôm đó, hàng nghìn người dân Sài Gòn  khẳng định rằng họ đã thấy ảo cảnh trên trời như khuôn mặt Đức Phật. Họ  cho rằng Phật tổ đang nhỏ lệ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2.2. Phản ứng của chính quyền Ngô Đình Diệm sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Lúc 19 giờ cùng ngày Thích Quảng Đức tự thiêu, Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc một bài diễn văn trên sóng phát thanh rằng ông &lt;em&gt;"hết sức lo ngại"&lt;/em&gt; về vụ việc và khẩn khoản kêu gọi &lt;em&gt;"đồng bào bình tâm"&lt;/em&gt;.  Ông cũng thông báo rằng tiến trình đàm phán đang tiến triển tốt. Ông  Diệm cho biết chính tình hình tôn giáo căng thẳng như thế này đã làm nổi  bật vai trò của thuyết nhân cách trong Thiên chúa giáo đối với các luật  lệ của ông. Ngô Đình Diệm còn cho rằng những người có tư tưởng cực đoan  đã bóp méo sự thật và khẳng định rằng các Phật tử có thể: &lt;em&gt;"tin tưởng vào Hiến pháp, hay nói cách khác là tin tưởng ở tôi".&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Quân lực Việt Nam Cộng hòa hưởng ứng lời kêu gọi của tổng thống, bày  tỏ sự đoàn kết với nhau đằng sau Ngô Đình Diệm để cô lập các sĩ quan  chống đối. 30 quan chức cấp cao đứng đầu bởi tướng Lê Văn Tỵ đã khẳng  định quyết tâm thực thi mọi nhiệm vụ giao phó cho quân đội để bảo vệ  hiến pháp và nền cộng hòa. Bản tuyên bố thực ra là vỏ bọc che đậy cho kế  hoạch lật đổ Ngô Đình Diệm. Một số người tham gia ký kết về sau có dính  líu trực tiếp tới cuộc đảo chính và ám sát Diệm tháng 11 năm đó. Các  tướng Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn, cố vấn quân sự của tổng thống và  là người sẽ lãnh đạo cuộc lật đổ, lúc đó đang ở nước ngoài và không phải  tham gia màn kịch ký kết.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trần Lệ Xuân, vợ của Ngô Đình Nhu và em dâu tổng thống, lúc đó được  mệnh danh là Đệ nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa vì tổng thống sống độc  thân, đã phát biểu: &lt;em&gt;"Tôi sẽ vỗ tay khi thấy một vụ nướng sư khác"&lt;/em&gt; (&lt;em&gt;I would clap hands at seeing another monk barbecue show&lt;/em&gt;) và &lt;em&gt;"nếu ai thiếu xăng dầu tôi sẽ cho"&lt;/em&gt;. Trả lời phỏng vấn của ký giả tờ &lt;em&gt;New York Times&lt;/em&gt;, Trần Lệ Xuân nói: &lt;em&gt;"Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt lờ, không cần biết tới"&lt;/em&gt;.  Những phát biểu thiếu cân nhắc và quá khích của bà như rót thêm nước  sôi vào tình hình căng thẳng lúc đó. Cuối tháng 6, chính phủ Ngô Đình  Diệm cáo buộc rằng Thích Quảng Đức đã bị chích thuốc trước khi bị ép tự  vẫn. Chính quyền cũng buộc tội Browne đã hối lộ nhà sư để ông tự thiêu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3. NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ CUỘC TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;      &lt;strong&gt;3.1.&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;Cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đưa đến việc ký kết Thông cáo chung vào ngày 16-6-1963&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau vụ Thích Quảng Đức tự thiêu, phía Hoa Kỳ gia tăng sức ép buộc  Việt Nam Cộng hòa tiếp tục thương lượng và hòa giải với phía Phật giáo.  Lúc 11:30 ngày 11 tháng 6, Tổng thống Diệm triệu tập nội các để họp khẩn  cấp bàn về vấn đề khủng hoảng Phật giáo. Thế nhưng sau cái chết của  Thích Quảng Đức, ông đã hủy cuộc họp và gặp riêng với các bộ trưởng của  mình. Đại sứ Mỹ William Trueheart đã cảnh báo Nguyễn Đình Thuận, thư ký  của Diệm, rằng tình hình hiện rất nhạy cảm và đặt hy vọng tổng thống sẽ  sớm đáp ứng những yêu sách của giới Phật tử. Tại Mỹ, ngoại trưởng Dean  Rusk cũng cảnh báo đại sứ quán Sài Gòn rằng Nhà Trắng sẽ công khai công  bố bản yêu sách đó "tự nó sẽ không liên quan" gì đến chính quyền nếu sự  việc đã không xảy ra.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 14/6 chính quyền và Phật Giáo chính thức họp ở hội trường Diên  Hồng và hai ngày sau tức ngày 16/6 thông cáo chung về năm nguyện vọng  của Phật Giáo đã được hai bên cùng ký kết. Ngày 17 tháng 6 Phật giáo ra  thông cáo tuyên bố đời sống mọi sinh hoạt trở lại bình thường và thành  tâm cầu nguyện cho 5 nguyện vọng thông cáo chung được thi hành nghiêm  chỉnh.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.2. Lưu lại “Trái Tim Bất Diệt” tạo nên lòng tin lớn cho Phật giáo đồ&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 15 tháng 6 được chọn làm ngày tổ chức lễ tang cho Thích Quảng  Đức nhưng buổi lễ lại bị hoãn. Tang lễ Bồ tát Thích Quảng Đức ở chùa Xá  Lợi trở thành một sự kiện trọng đại của Sài Gòn lúc bấy giờ. Tăng Ni,  Phật tử và dân chúng ở các địa phương nghe tin đã nhanh chóng về Sài Gòn  để thắp hương tiễn biệt ngài lần cuối. Lượng người đổ về chùa Xá Lợi  càng lúc càng đông hơn 4000 người, khiến lực lượng cảnh sát, mật vụ  chính quyền Ngô Đình Diệm phải ra sức ngăn chặn nhằm giảm thiểu ý nghĩa  linh thiêng và quy mô của tang lễ. Họ vây chặt vòng ngoài, thậm chí một  số đối tượng giả dạng thương binh còn đến quấy rối, đe dọa Tăng Ni, Phật  tử ...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đến ngày 20 tháng 6 năm 1963. Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và  nhiều Tăng, Ni, Phật tử đưa nhục thân Ngài đi hỏa táng tại An Dưỡng địa  Phú Lâm cách trung tâm thành phố 16km (khoảng 10 dặm). Theo như bản  Thông cáo chung vừa được ký kết trước đó vài ngày trong đó có sự đồng  thuận giữa các chức sắc Phật giáo và cảnh sát thì số người tham dự lễ  tang được giới hạn khoảng 400 người.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau 24 tiếng đồng hồ đốt trong lò với sức nóng 4000oC, Kim quan và  nhục thân Ngài đã biến thành tro bụi, nhưng một kỳ tích ngoài tưởng  tượng của mọi người, đó là quả tim của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, lúc đầu ở  trạng thái mềm và său dần dần cứng như sắt. Đúng như tâm nguyện của  Ngài trước Tam Bảo khi phát nguyện tự thiêu&lt;em&gt; “Xin thân này làm đuốc cảnh tỉnh chế độ Ngô Đình Diệm và xin cho trái tim này được tồn tại mãi”.&lt;/em&gt;  Về sau quả tim này được đặt trên một cốc rượu lễ bằng thủy tinh tại  chùa Xá Lợi. Giới Phật tử coi đây là một điều thiêng, một biểu tượng của  lòng trắc ẩn và suy tôn ông thành một vị Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;            &lt;/em&gt;Thượng Tọa Thích Thông Bửu Trụ Trì Chùa Quan Thế  Âm là nơi Hòa Thượng Thích Quảng Đức trú sứ, và Thầy Thông Bữu cũng là  trưởng tử của HT Thích Quảng Đức đã nói chuyện lại rằng : ….&lt;em&gt; . .Sau  đó Tăng, Ni đã đem hài cốt và Trái Tim Bất Diệt của Hòa thượng về Chùa  Xá Lợi….. .Khi biết được trái tim không cháy, chính quyền Ngô Đình Diệm  luôn gây sức ép căng thẳng  với  Phật Giáo lúc bấy giờ  đều nhằm mục  đích chiếm đoạt lại hoặc phá hủy “Trái Tim Bất Diệt &lt;/em&gt;“ này. Ủy ban Liên Phái Phật Giáo biết được ý đồ đó đã họp và quyết định thay thế  trái tim thật thành trái tim giả.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 28 tháng 6 năm 1963, Chính quyền Diệm mở một cuộc tấn công  và  đàn áp vào chùa Xá Lợi để chiếm đoạt trái tim. Cảnh sát mật định cướp  bình đựng tro của Thích Quảng Đức. Tuy nhiên lính của ông Nhu cũng đã  lấy được trái tim xá lợi. Trái tim mà lực lượng quốc gia lấy được khi  đó, có người cho là trái tim giả, còn trái tim thật đã được niêm phong  cất vào tủ sắt và bí mật cất vào một ngân hàng lưu giữ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.3. Ảnh hưởng từ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng đối với chính trị - truyền thông trong và ngoài nước&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Những bức ảnh của Browne chụp cảnh tự thiêu nhanh chóng truyền đi  bằng các phương tiện điện tín và lên trang nhất của nhiều tờ báo khắp  thế giới. Việc một hòa thượng tự thiêu tại một đất nước mà phần đông dân  số theo đạo Phật đã được ghi nhận là bước ngoặt trong cuộc khủng hoảng  Phật giáo và dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặc dù sự  suy yếu của chính phủ bắt đầu lộ rõ từ trước nhưng vụ việc vẫn được coi  là bước then chốt trong tình hình hỗn loạn lúc bấy giờ. Nhà sử học Seth  Jacobs khẳng định Thích Quảng Đức đã &lt;em&gt;"đốt cuộc thử nghiệm Diệm của nước Mỹ ra tro"&lt;/em&gt; và "&lt;em&gt;không có lời bào chữa nào có thể gỡ gạc lại được danh tiếng của Ngô Đình Diệm"&lt;/em&gt;  một khi những bức ảnh của Browne đã hằn vào tâm trí của công chúng thế  giới. Ellen Hammer mô tả rằng sự kiện đã gợi lên những hình ảnh đen tối  về sự đàn áp và ghê rợn, tương ứng với một thực tại rất châu Á mà người  phương Tây vốn không hiểu". William Colby, giám đốc CIA vùng Viễn Đông  cho rằng Ngô Đình Diệm &lt;em&gt;"đã xử trí cuộc khủng hoảng rất dở và đã để  cho nó tiến triển. Nhưng thực sự tôi không nghĩ rằng có nhiều cơ hội để  họ giải quyết vấn đề một khi đã có một thầy tu tự thiêu".&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, người đứng đầu chính phủ đồng minh  với Việt Nam Cộng hòa, biết được thông tin về vụ một nhà sư tự thiêu  tại Nam Việt Nam khi đọc báo tin tức buổi sáng, trong khi ông đang ngồi  trên giường và nói chuyện với em trai Robert F. Kennedy, viên chưởng lý  Hoa Kỳ. Tổng thống đã cắt ngang cuộc đàm thoại về tình hình tại bang  Alabama và thốt lên: "Lạy Chúa Giê-su!". Về sau ông nhận xét rằng &lt;em&gt;"trong lịch sử không có một bức hình thời sự nào lại gây nên nhiều xúc cảm trên khắp thế giới như vậy".&lt;/em&gt; Thượng nghị sĩ Frank Church, thành viên Ủy ban Quan hệ Quốc tế, đã phát biểu: &lt;em&gt;"Người  ta chưa từng chứng kiến những cảnh tượng hãi hùng như thế này kể từ khi  các vị thánh tử vì đạo dắt tay nhau vào đấu trường La Mã nộp mình".&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tại châu Âu, bức ảnh được bày bán hàng loạt trên đường phố như những  tấm bưu thiếp trong suốt thập niên 1960. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã  in bức ảnh ra hàng triệu bản và phân phát khắp châu Á và châu Phi như  một minh chứng về "chủ nghĩa đế quốc Mỹ". Một trong những tấm ảnh Browne  chụp cảnh tượng kinh hoàng vẫn còn dán trên chiếc xe mà Thích Quảng Đức  lái tới ngã tư nơi ông tự thiêu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đối với Browne và hãng thông tấn AP, những bức ảnh là một thành công  trong tiếp thị. Ray Herndon, nhà báo hãng thông tấn UPI (United Press  International) đã quên không mang máy ảnh ngày hôm đó nên bỏ lỡ cơ hội  chụp cảnh một hòa thượng tự thiêu, sau đã bị cấp trên la rầy. UPI ước  lượng rằng có 5.000 độc giả ở Sydney, một thành phố lúc đó có khoảng 1,5  đến 2 triệu dân, đã chuyển sang lấy tin từ các nguồn của hãng AP. Về  phía chính quyền Ngô Đình Diệm, tờ &lt;em&gt;Times of Vietnam&lt;/em&gt;, cơ quan ngôn luận bằng tiếng Anh, đã gia tăng sự công kích đối với các nhà báo Mỹ và giới Phật tử. Những dòng tít kiểu như &lt;em&gt;"Giới chức chùa Xá Lợi đưa ra lời hăm dọa mới" &lt;/em&gt;hay &lt;em&gt;"Sư sãi âm mưu ám sát"&lt;/em&gt; xuất hiện trên mặt báo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tấm ảnh đoạt giải của Browne đã được giới truyền thông đại chúng sử  dụng lại trong nhiều thập niên. Năm 1992, ban nhạc rock Rage Against the  Machine sử dụng một tấm ảnh làm bìa cho album và đĩa đơn đầu tay của  họ. Trong tập 408 bộ phim hoạt hình &lt;em&gt;South Park&lt;/em&gt;, "Chef Goes  Nanners", nhân vật Chef đã dùng đến tấm ảnh tự thiêu của Browne trước  khi đổ xăng và đốt cháy một nhà sư để phản kháng lại lá cờ phân biệt  chủng tộc của thị trấn.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Địa điểm được chọn làm nơi tự thiêu, trước cổng đại sứ quán Campuchia  tại Sài Gòn, đã làm dấy lên những nghi vấn liệu đó chỉ là sự ngẫu nhiên  hay còn có ý gì khác. Trueheart và nhân viên sứ quán cảm thấy rằng địa  điểm này được chọn như để bày tỏ tình đoàn kết với chính phủ Campuchia  của Hoàng thân Norodom Sihanouk. Quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa và  Campuchia lúc đó đang căng thẳng. Ngày 22 tháng 5, Sihanouk buộc tội  Diệm đã bạc đãi người Việt và Phật tử thiểu số người Khmer. Tờ &lt;em&gt;Thời báo Việt Nam&lt;/em&gt;  cho in một bài viết số ra ngày 9 tháng 6 khẳng định rằng các nhà sư bên  Campuchia đang đứng về phía Phật giáo để phản đối chính quyền. Tờ báo  này cũng cho rằng đây là một phần trong kế hoạch của Campuchia nhằm mở  rộng chính sách ngoại giao trung lập vào Nam Việt Nam. Floweree cho biết  Tổng thống Diệm đang "háo hức và sẵn sàng trông bàn tay của Campuchia  nhúng vào tất cả các hoạt động có tổ chức của Phật giáo".&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;3.4. Ảnh hưởng từ việc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng  Đức đến các vụ tự thiêu của Tăng Ni Phật tử khi chính quyền Ngô Đình  Diệm vi phạm Thông cáo chung &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cái chết phi phàm của Bồ Tát Thích Quảng Đức đã làm chấn động dư luận  khắp hoàn cầu. Báo chí thế giới đăng tin lên trang đầu cùng ảnh tự  thiêu của Ngài. Việc Ngài tự thiêu, được đồng bào cả nước biết ngay  chiều hôm đó, và đã gây xúc động sâu xa trong mọi tầng lớp, không phân  biệt Tôn giáo. Sự hy sinh vì đạo của Ngài đã làm cho Ngô Đình Diệm vô  cùng hoảng hốt và lo sợ, tìm mọi cách đối phó với Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đối việc thực hiện Thông cáo chung, phía chính quyền thì nhượng bộ  nhưng phía gia đình trị và tôn giáo trị của ông Diệm không chấp nhận. Do  đo, chưa đầy một tuần lễ sau là một chiến dịch do ông, bà Ngô Đình Nhu  và ông Tổng giám mục Ngô Đình Thục đã tận dụng mọi phương tiện của nhà  nước dùng các tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa, Hội Phụ Nữ Liên Đới, trung  tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đảng  Cần Lao, thương phế binh, Công An mật  vụ………. Truyền thông báo chí  thi nhau vu khống, mạ lỵ đàn áp, cách chức,  bắt giam, ám sát, bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu….. Thế là các nhà lãnh đạo  Phật Giáo lại phải kêu gọi các chư Tăng, Ni cùng đồng bao Phật tử vùng  lên tái đấu tranh.[5]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cuộc tranh đấu này quả thực gay go và phức tạp, Ngoại Trưởng Vũ Văn  Mẫu đã phải từ chức để phản đối hành động đàn áp Phật Giáo của chế độ  Ngô Đình Diệm. Ông Trần Văn Chương, đại sứ của chính phủ VNCH tại Liên  Hiệp Quốc và là thân phụ của bà Trần Lệ Xuân vợ ông Nhu, cũng từ chức để  phản đối cuộc đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Dình Diệm. Tướng Lê  Văn Nghiêm tư lệnh Quân Đoàn I,  lên tiếng phản đối sự đàn áp dã man của  phía chính quyền thì bị cách chức, đa số các quân nhân ở Quân Đòan I đã  cùng đồng bào Phật tử tham gia  biểu tình, nhất là ở tại Huế và Đà  Nẵng. Thị Trưởng Đà Nẵng lúc đó là Đại tá Lê Quang Mỹ nguyên tư lệnh Hải  quân, bị cách chức, sau đó lại được Tổng thống Ngô Dình Diệm cử Đại tá  Trân Ngọc Châu ra hay thế. Trần Ngọc Châu có rất nhiều kế hoạch thâm độc  để đánh phá các cuộc biểu tình của Phật giáo lúc đó. Tại Huế và Đà Nẵng  khí thế tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo của Phật Giáo rất sôi động.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Noi gương Bồ tát Thích Quảng Đức, khi chính quyền Ngô Đình Diệm vi  phạm Thông cáo chung còn có 6 Tăng Ni và 1 cư sĩ của Phật giáo Việt Nam  cũng tự thiêu để đòi quyền tự do bình đẳng tôn giáo đã tạo nên một làn  song cuồn cuộn làm sụp đổ chế độ độc tài, gia đình chị của họ Ngô vào  ngày 1-11-1963.  &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.1. Đại đức Thích Nguyên Hương&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt; tự thiêu ngày 4-8-1963 tại Phan Thiết&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đại Đức Thích Nguyên Hương 23 tuổi, hiệu là Đức Phong, tục danh là  Huỳnh Văn Lễ, sanh năm 1940, tại làng Long Tỉnh, xã Liên Hương, Quận tuy  Phong, Tỉnh Bình Thuận (Trung Việt). Thân phụ là Huỳnh Thân, Thân Mẫu  là Trương Thị Lang, chỉ sanh một mình Đại Đức, đặt tên là Huỳnh Văn Lễ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong thời thơ ấu, vì nhà ở sát chùa, nên Đại Đức thường được mẹ dẫn  dắt tới lui cảnh thiền môn để lễ Phật nghe kinh. Do đó, năm vừa lên 6,  lòng mến đạo đã thấm nhuần trong tâm tưởng, Đại Đức được cha mẹ cho xuất  gia học đạo, và được Thượng Tọa Thích Quang Chí, tọa chủ chùa Linh Bửu  cho thọ Tam Qui, Pháp danh là Nguyên Hương. Năm 12 tuổi, Đại Đức được  thọ ngũ giới. Từ đó Đại Đức chuyên tâm tu niệm, dốc lòng phụng sự Tam  Bảo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 20 tuổi, Đại Đức thọ Cụ túc giới, được hiệu là Đức Phong. Thọ  giới xong, đạo niệm của Đại Đức ngày một thêm tinh tấn. Và trên bước  đường vân du Hóa-Đạo, Đại Đức đã được rất nhiều người cảm mến kính  trọng. Nhưng vì thầm nguyện an tâm tu niệm, nên Đại Đức dừng bước vân du  và nhận chức Trụ trì tại chùa Bảo Tạng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Từ ngày Phật-giáo bị đại nạn, Đại Đức đã thấu triệt sự tồn vong của  Đạo pháp là vấn đề trọng đại, còn tấm thân ngũ uẫn này là tạm bợ, nên  sau 2 ngày tuyệt thực tại chùa Tỉnh hội Phật-giáo Bình Thuận, Đại Đức  một mình lặng lẽ rời chùa , tay sách thùng xăng dấu trong tấm áo cà sa,  đi thẳng lên đài Chiến sĩ, trước tòa Tỉnh trưởng Phan Thiết. Thầy đắp y  vàng, ngồi kiết già, tẳm xăng rồi tự thiêu. Chỉ trong chốc lát lửa cháy  bừng lên. Thầy không cử động, tay quyết ấn, ngồi ngay thẳng với dáng  điệu tọa thiền cho tới khi lửa tắt và Thầy nằm xuống. Lập tức một đơn vị  quân đội kế cận được huy động đến chở thi hài Thầy vào Bệnh viện Phan  Thiết. Lúc ấy là 12 giờ ngày 4-8-1963.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Nghe tin này, một số Tăng Ni Phật tử đến bệnh viện để thăm thầy. Thấy  vậy lực lượng canh phòng mỗi lúc một tăng, trong cảnh ấy Tăng Ni Phật  tử đành phải nằm quanh nhà xác để canh chừng nhục than của thầy vì sợ  chính quyền phải cướp lấy không biết giờ phút nào. Một số Tăng Ni Phật  tử bị giam lỏng không ăn, không uống, không một tin tức. Ngày 5-8, chính  quyền bắt ba mẹ của Đại đức Thích Nguyên Hương đến ghi âm lại những lời  họ bịa đặt ra để trấn an dư luận. Họ còn ra lệnh cứ ba bốn nhân viên  thuộc hạ kéo một Thầy hoặc một Ni cô liệng vào phòng điên, còn những  Tăng Ni Phật tử không còn chỗ chứa bị họ bắt vặn tay lui đằng sau và dẫn  ra đứng trước sân. Trong khi ấy những Tăng Ni Phật tử ngoài bệnh viện  kêu cứu phản đối nhưng đều bị đàn áp. Thế rồi, nhân viên công lực ào vào  nhà xác bế nhục than thầy Nguyên Hương cho vào hòm. Đau đớn nhất là khi  nghe những tiếng lắc cắc do gân đứt xương gãy tạo nên! Sở dĩ họ phải bẻ  gãy vì lúc thiêu Thầy ngồi kiết già, tay bắt ấn.[6] Chỉ trong chốc lát  họ đã bỏ được vào hòm, cho lên xe và chạy về Tuy Phong. Trong tình cảnh  ấy, một số Tăng Ni Phật tử quá đau đớn nhào lên xe cố đòi cho kỳ được  xác Thầy nhưng sức yếu thế cô bị nhân viên công lực đạp xuống nên đành  đứng lại gào thét khóc than nhìn theo thân xác người đã khuất với nỗi  niềm vô vọng, tiếc thương.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thế là gần 2 tháng sau ngày ký bản Thông cáo chung của chính quyền  Ngô Đình Diệm, một lần nữa Thầy Nguyên Hương, một tăng sĩ trẻ của Phật  giáo Việt Nam lại noi gương Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu vì đạo để  phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền họ Ngô. Huyễn thân  tuy mất, nhưng Đại Đức còn để lại trong lòng người một cái gì bất  diệt.[7]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;h2 style="text-align: justify;"&gt;3.4.2. Đại đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu ngày 13-8-1963 tại Thừa Thiên&lt;/h2&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đại Đức Thích Thanh Tuệ, 18 tuổi, tục danh Bùi Huy Chương, sinh tại  ba Khê, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là Bùi Dư, thân mẫu là  bà Hoàng Thị Phục. Mẹ mất từ lúc Đại đức lên 10 tuổi. Cụ Dư ở vậy nuôi  con. Đại đức có 2 chị gái lớn và 1 anh trai là Bùi Cầu 23 tuổi, quân  nhân. Sau Đại đức còn 1 em trai út.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Vì ham mộ đạo lý nhà Phật, nên năm 1960 Đại đức vào quy y chùa Phước  Duyên, thuộc xã Hưng Long, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, được pháp  danh là Thanh Tuệ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm 1963, Đại đức đỗ bằng trung học đệ nhất cấp với hạng bình thứ. Vì  tính rất ôn hòa và hiền hậu, nên Đại đức đã được Ngài trụ trì chùa Cu  Võ Đức Phú, pháp danh Thích Đãnh Lễ rất thương yêu. Đặc biệt là Đại đức  rất hiếu thảo với cha mẹ, thường tỏ ý thương tiếc từ mẫu đã quá vãng  sớm. Hằng năm đến ngày rằm tháng 6 là ngày giỗ mẹ, dầu cho bận việc thế  nào, Đại đức cũng về quê tại Hải Lăng, tụng kinh niệm Phật ngày đêm để  cầu siêu cho mẹ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trước ngày tự thiêu 9 hôm, tức là ngày mùng 4.8.1963, nhằm ngày rằm  tháng 6 là ngày giỗ mẹ, Đại đức cùng Ngài trụ trì là Thích Đãnh Lễ về  quê nhà. Đại đức tụng niệm suốt đêm ngày, để cầu siêu cho mẹ và cũng là  lần chót Đại đức từ giã gia đình về cõi Phật.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Vì thấy Phật giáo bị đại nạn, đứng trước sự tồn vong của Đạo pháp,  Đại đức phát nguyện tự thiêu để cứu nguy Đạo pháp vào đêm 12 rạng  13.8.1963 tại chùa Phước Duyên, thuộc núi Thiên Mụ, tỉnh Thừa Thiên.  Chính quyền Ngô Đình Diệm đã cướp lấy thi hài của Đại đức nên đã gây ra  một cuộc đàn áp với Phật tử. Kết quả cuộc đàn áp này là 25 Phật tử bị  thương, trong đó có 5 người người bị thương khá nặng phải đem vào bệnh  viện điều trị. Ngay chiều hôm Đại đức Thích Thanh Tuệ thiêu thân, Thượng  tọa Thích Trí Thủ đã đánh điện vào Sài Gòn yêu cầu Ủy ban Liên Phái can  thiệp với chính quyền Ngô Đình Diệm trả lại thi hài của Đại đức Thích  Thanh Tuệ. Tuy nhiên yêu cầu của Phật giáo không những không có hiệu quả  mà thi hài của Đại đức không biết chính quyền đã chôn lén ở một nơi  nào.[8]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3. Ni cô Diệu Quang tự thiêu ngày 15-8-1963 tại Ninh Hòa&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ni cô Thích nữ Diệu Quang, tục danh là Ngô Thị Thu Minh, tự Minh  Nguyệt, 27 tuổi, tự thiêu vào 8 giờ 30 sáng ngày 15-8-1963. Ni cô đã dùm  ét xăng tự thiêu tại một ngỏ hẽm gần chùa Chi Hội, cạnh trường Hòa  Xuyên tại Ninh Hòa. Chính quyền địa phương lập tức tới nơi thi nhặt thi  hài của Ni cô và mang đi mất tích. Cũng vì chính quyền quá mau lẹ cho  nên Tỉnh hội Phật giáo Nha Trang không tìm kiếm được một di tích gì của  Ni cô để lại cả di bút là lá thư thứ mà thông thường trước khi tự thiêu,  vị nào cũng ghi lại để nói lên nguyện vọng của mình. Sau ngày Ni cô  Diệu Quang tự thiêu Phật giáo đồ Nha Trang đứng lên biểu tình đòi trả  lại thi hài của Ni cô. Cuộc biểu tình này ngay lập tức bị đàn áp dã man  của nhân viên công lực, khiến gần 30 người bị thương và trên 200 thiện  tín bị bắt. [9]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau đó, nhà cầm quyền cho bao vây hai chùa Tỉnh Hội và Phật học viện  Nha Trang, nhốt hơn 300 Tăng Ni và thiện tín trong đó. Trong 3 ngày hai  chùa này bị đàn áp dã man và kết quả của cuộc đàn áp này có 4 Tăng, 1 Ni  và 3 Phật tử bị trọng thương, 2 vị Tăng khác bị quăng xuống hồ và được  gia đình Phật tử Phước Hải vớt lên. Rất đông học sinh Phật tử bị bắt,  nhiều nhất là các nữ sinh Phật tử.[10]  &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Theo Trần Tuyết Hoa tác giả của bài viết “Thánh tử đạo Diệu Quang” đã viết: &lt;em&gt;“…có  cái gì đó rất đặc biệt ở người con gái có đôi mắt đẹp mơ màng rất Huế  và buồn vời vợi, buồn đến lạ lùng, một nét buồn thánh thiện mà ai nhìn  vào cũng phải chao lòng. &lt;/em&gt;Lúc chưa xuất gia:&lt;em&gt; “Chị đi dạy ở  trường tiểu học và nổi tiếng là cô giáo rất thương yêu học trò - Em trai  tôi học với chị cũng thần tượng chị là cô giáo hiền thục nhất trường. Ở  nhà, là người chị gương mẫu hiền lành, ít nói, luôn thương chiều các  em. Nhìn dáng chị đi về thanh thoát, nhẹ nhàng, giọng nói nhỏ và êm như  ru, có vẻ sợ làm kinh động đến người khác. Thỉnh thoảng chị cười thật  nhẹ mà đôi mắt vẫn buồn tênh, ưa nhìn vào khoảng không, tư lự... Tôi cảm  thấy ở chị một phong cách khác người, là lạ mà hồi đó tôi chưa nghĩ ra.  Tôi thường nói đùa với Hương &lt;/em&gt;(em gái Ni cô Diệu Quang)&lt;em&gt;: “Chị  Nguyệt có vẻ như một tiên nữ đi lạc xuống cõi trần ô trọc này vậy!...”  Hương cười tự thú: “Chị hiền lắm mi ơi! - Me tao hay lo là chị hiền quá  sợ sau ra đời sẽ khổ...” - Tội nghiệp chị ghê đi..”&lt;/em&gt;[11]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.4. Thượng tọa Thích Tiêu Diêu tự thiêu ngày 16-8-1963 tại Huế&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thượng tọa Thích Tiêu Diêu 71 tuổi, hiệu là Tâm Nguyện, tục danh là  Đoàn Mễ, sanh năm 1892 tại làng An Tuyền  tức là Chuồn, quận Phú Vang,  tỉnh Thừa Thiên, cách Thị xã Huế ngót 10 cây số.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thượng tọa sanh trưởng trong một gia đình đạo đức giàu có và chức sắc trong làng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thượng tọa có 9 người con, hai người cũng đã xuất gia tu hành là Đại  đức Thích Thiên Ân (đậu bằng Tiến sĩ ở Nhật) và Đại đức Thích Đức Tường,  hiện tu học tại Phật học viện Nha Trang Trung Phần.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thượng tọa Tiêu Diêu xuất gia năm 1930 và tu tại chùa Tường Vân, làng  Dương Xuân Thượng. Thượng tọa là đệ tử của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết,  Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1952, người thọ  Cụ túc giới. Vì muốn tu trong cảnh thanh vắng, nên Thượng Tọa đã lập một  cái cốc trên ngọn đồi bên chùa Châu Lâm, để tiện nhập thất tu niệm.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thượng Tọa rất chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp qua kinh sách và đã dự  các lớp Phật pháp tại Phật học viện Tây Thiên, Linh Quang. Thượng tọa  tu theo hạnh Đầu đà: ăn ngủ rất ít, cứ 2 ngày mới ăn một bữa vào giờ  ngọ.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Khi cuộc tranh đấu của Phật-giáo phát khởi, Thượng tọa thường đến ở  chùa Từ Đàm Huế, để tham dự các cuộc cầu siêu và tuyệt thực. Không một  cuộc biểu tình, xuống đường, tuyệt thực hay cầu an cầu siêu nào cho cuộc  đấu tranh và cho những người hy sinh vì đạo pháp mà Ngài không có mặt.  Người dân cố đô Huế luôn thấy hình ảnh vị Sư già yếu ấy, có mặt trước  tiên và bền bĩ ở khắp mọi nơi có làn sóng biểu thị.[12]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Tình trạng đàn áp Phật giáo đồ khắp mọi nơi của chính quyền Ngô Đình  Diệm đã không ngừng mà còn gia tăng khốc liệt. Những tin tức chẳng lành  từ khắp nơi liên tiếp đưa về khiến lòng Ngài càng thêm đau buồn lo ngại.  Đặc biệt, ngọn lửa hùng lực dũng trí của Hòa thượng Quảng Đức  (11.6.1963), tiếp đến là của Đại đức Nguyên Hương (04.8.1963), Đại đức  Thanh Tuệ (13.8.1963), Ni cô Diệu Quang (15.8.1963) đã làm chấn động  lương tri khắp cả nhân loại yêu công lý, tự do và bình đẳng. Nhưng chỉ  riêng gia đình nhà Ngô là vẫn tiếp tục điên cuồng nhắm đến một kế hoạch  lớn là thủ tiêu Phật giáo. Thông tư mang tính nhân bản và từ bi của Ủy  ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo ngày 14.8.1963 nhằm “kêu gọi Tăng Ni hạn  chế tự thiêu cúng dường Tam bảo” vẫn chưa đủ sức hạn chế sự căm phẫn,  xót xa của hàng triệu Tăng tín đồ khắp mọi nơi. Hơn thế nữa, bản thông  cáo chung giữa chính quyền và Phật giáo ký kết ngày 26.6.1963 mà người  hạ bút ký vào đó không ai khác hơn là Ngô Đình Diệm, nhưng Diệm đã phản  bội bản thông cáo chung đó, khiến Phật giáo đồ Việt Nam phải tiếp tục  cuộc đấu tranh.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong những tháng ngày tuyệt thực, đấu tranh, biểu tình, xuống đường  và cả những khi bị bắt bớ giam cầm, Ngài luôn nghĩ phải tìm ra một  phương cách sẽ tự mổ bụng hoặc tuyệt thực cho đến chết nhưng sau đó Ngài  quyết định tự thiêu thân để bày tỏ sự phản kháng của mình, hy vọng làm  bừng tỉnh lương tâm những kẻ chủ trương kỳ thị và đàn áp Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 16 tháng 8 năm 1963, lúc 4 giờ sáng, ngay tại sân chùa Từ Đàm,  nơi lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo miền Trung, Ngài  tự châm ngọn lửa thiêu đốt thân mình, để soi sáng vô minh và nhắn nhủ  hậu sinh về sự kiên cường bất khuất, dũng lực trong mọi nghịch chướng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngài trụ thế 71 tuổi đời, với 32 tuổi đạo, để lại lịch sử đấu tranh  của Phật giáo nét son vĩnh cửu của một bậc Vị pháp thiêu thân hiến dâng  cho sự nghiệp chung.[13]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.5. Đạo hữu Nguyễn Thìn tự thiêu ngày 29-9-1963 tại Vũng Tàu&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đạo hữu Nguyễn Thìn, pháp danh Hồng Thê, sinh năm 1932 tại Huế, đã  gia nhập hang ngũ quân đội trong năm qua, và cuối cùng bị thương phế nên  được về an dưỡng ở Vũng Tàu. Khi phải chứng kiến bao trạng huống lầm  than của đất nước, anh đã tự thiêu thân vào ngày 29-9-1963 ở phía sau  chùa Phước Lâm, Vũng Tàu. Trước lúc về cõi Phật, anh Thìn đã để lại  nhiều di bút. Trong đó có những thư từ như sau:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;“Tôi tự thiêu để phản đối chính sách của Chính quyền đã đạp phá  các chùa chiền, bắn giết, bắt bớ, giam cầm, tra tấn các chư vị Tăng, Ni,  cùng Phật giáo đồ và sinh viên, học sinh.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tôi đem hết lòng thành kính cầu nguyện Đức Từ Phụ, gia ân cho  cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam chống thành quả tốt đẹp, và dân  tộc Việt Nam mau thoát khỏi cảnh lầm than điêu đứng do bè lũ độc tài Ngô  Đình Diệm gây ra.”&lt;/em&gt;[14]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trong một cuốn quyển sổ nhỏ của anh Nguyễn Thìn có những vần thơ dang dở sau đây:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Tôi nằm xuống, người sau ơi! bước tới&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Dẫm lên tôi, tô điểm nước non này&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Quét mây mù cho nắng sớm ngàn cây&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Trừ cường bạo giang sơn về một mối&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Ai bạn? Ai phản bội?&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Xây ngai vàng trên xương máu lương dân!&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;Bà con ơi! Trong trạng huống qua phân …..&lt;/em&gt;[15]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.6. Đại đức Thích Quảng Hương tự thiêu ngày 5-10-1963 tại Sài Gòn&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đại Đức Thích Quảng Hương 37 tuổi, tục danh là Nguyễn Ngọc Kỳ, đạo  hiệu là Bảo Châu, sanh ngày 28.7.1926 tại xã An Ninh, quận Tuy Hòa, tỉnh  Phú Yên. Năm 1940, anh ruột của Đại đức xuất gia đầu Phật, nên Đại đức  thường xuyên lui tới chùa để tụng kinh sám hối và học kinh. Năm 1943,  Đại đức xuất gia tu học, làm đệ tử của Hòa thượng trụ trì chùa Kim Cang,  Phú Yên. Năm 1947, Đại đức cùng với 5 vị Đại đức khác trong xã An Đức,  quận An Thành, lập Chi hội Phật học tại quận này. Năm 1949, Đại đức cầu  Pháp và thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Liểu Tôn, trụ trì chùa Quãng Sơn  và nhận chức thư ký của chi hội Phật giáo An Hiệp. Năm 1950, Đại đức đến  Phan Thiết chữa bệnh. Sau khi bình phục, Đại đức vào học tại Phật học  viện Nha Trang. Năm 1959, Đại đức được Thượng tọa Giám Viện Phật học  viện Nha Trang cử làm Giảng sư tại tỉnh Hội Phật giáo Đà Lạt. Năm 1961,  Đại đức được Hòa thượng Hội Chủ cử kiêm nhiệm trụ trì và Giảng sư tại  tỉnh Hội Phật giáo Buôn Mê Thuột. Đại đức đã ở đây cho đến ngày tự  thiêu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Vào hồi 12 giờ 30 ngày 5-10-1963, tại công trường Diên Hồng, trước  cửa Nam chợ Bến Thành, trong lúc lực lượng an ninh của chính quyền Diệm  đang bố trí, canh phòng nghiêm ngặt để ngăn ngừa những cuộc biểu tình  của quần chúng, thì một ngọn lửa sáng lòa bốc lên làm cháy xém cả hàng  cây trong công trường.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Mọi người qua đường dừng lại, các ký giả ngoại quốc ráo riết hoạt  động và cảnh sát, mật vụ đổ xô về nơi ngọn lửa. Mười phút sau quần chúng  bao quanh công trường bị đánh rạt đi, lực lượng cảnh sát phủ kín mặt  đường. Máy quay phim, chụp hình bị đập nát, một vài ký giả ngoại quốc bị  đánh gãy tay, vỡ đầu vật xuống. Thế rồi, một thi hài cháy đen như than  được lôi ra trong công trường, quăng lên xe và đem đi biệt tích.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Một sự kiện xảy ra trước sau không đầy 30 phút, vậy mà đã in đậm  trong lòng những người con đất Việt vốn yêu chuộng hòa bình. Người tự  thiêu tại công trường Diên Hồng là Đại đức Thích Quảng Hương. Vì thấy  Phật-giáo bị đại nạn, nên Đại Đức phát nguyện tự thiêu để tranh thủ cho 5  nguyện vọng chân chính của Phật-giáo.[16]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Người đã góp phần tích cực vào việc thực hiện đại ngyện tự thiêu vì  đạo của Đại đức là Ni cô Chơn Phước và sinh viên Trương Quang Đại.[17]   &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;3.4.7. Đại đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu ngày 27-10-1963 tại Sài Gòn&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đại đức Thích Thiện Mỹ, thế danh là Hoàng Miều, sinh năm Canh Thìn  1940 tại Bình Định trong một gia đình nhiều đời sùng tín Phật đạo. Ngài  được song thân cho vào chùa làng xuất gia từ thuở bé thơ, theo chư Tăng  hầu cận thị giả và học tập thời khóa thiền môn để mong khi lớn lên sẽ là  bậc Như Lai sứ giả kế tục truyền đăng ánh sáng chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm Bính Thân 1956, khi đến tuổi 16, Ngài thọ giới Sa di tại chùa do  Bổn sư truyền thọ. Sau khi thọ giới, Ngài được Bổn sư cho theo học tại  các Phật học đường của Giáo hội tổ chức ở Tổ đình Thập Tháp và Long  Khánh – Qui Nhơn.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm Canh Thân 1960, khi tuổi đời đủ 20, Ngài được Bổn sư cho thọ đại  giới tại giới đàn chùa Bửu Tích ở Phan Rí Thành, Bình Thuận, do Hòa  thượng Thích Viên Trí làm Đàn đầu truyền giới. Đồng khóa giới tử với  Ngài là Đại đức Thích Nguyên Hương, cũng là một bậc Vị pháp thiêu thân  trong cuộc pháp nạn 1963.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau khi thọ đại giới, Ngài bắt đầu du phương tham học hành đạo. Nhận  thấy miền cao nguyên sơn cước Phật đạo còn sơ khai, Ngài chọn phương này  làm nơi du hóa. Đầu tiên, Ngài ngược con đường từ Tây Sơn – Bình Định  lên cao nguyên Đắc Lắc, rồi dần đến cao nguyên Lâm Viên và Ngài dừng  chân tại thành phố Đà Lạt để tu học trau giồi Giới Định Tuệ và bước đầu  hoằng hóa độ sanh.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Năm Quý Mão 1963, lúc này tại Sài Gòn, phong trào đấu tranh chống đàn  áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã lên đến cao trào. Những  ngọn lửa thiêu thân thắp sáng vô minh để bảo vệ Phật giáo trước cường  quyền của những vị Bồ tát Quảng Đức, Thượng tọa Tiêu Diêu, Đại đức  Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Quảng Hương... đã đánh thức lương tâm nhân  loại.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đầu tháng 7 năm 1963, trong cuộc đấu tranh đòi thực thi năm nguyện  vọng Phật giáo của Tỉnh Giáo hội Tuyên Đức (Đà Lạt), Ngài đã tự chặt  ngón tay trỏ trong một cuộc biểu tình để bày tỏ sự phản đối chính quyền  không thi hành đúng đắn bản thông cáo chung đã ký với Ủy ban Liên phái  bảo vệ Phật giáo.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 7 tháng 10 năm 1963 tại New York, Đại hội đồng Liên hiệp quốc mở  cuộc họp về tình hình Việt Nam. Một phái đoàn điều tra của Liên hiệp  quốc gồm 7 người tới Sài Gòn vào ngày 24 tháng 10 năm 1963, mục đích  tiếp xúc với Phật giáo để nắm rõ sự vi phạm của chính quyền Ngô Đình  Diệm đối với Phật giáo.    &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bức xúc trước cuộc đấu tranh của toàn thể Tăng Ni Phật giáo đồ, Ngài  từ thành phố Đà Lạt xuống Sài Gòn vào giữa tháng 10 năm này, cư trú tại  chùa Vạn Thọ – Tân Định để cùng chư tôn đức tham gia cuộc tranh đấu đang  đến hồi quyết liệt trước sự quan tâm của thế giới, đang dần đi đến kết  quả.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngày 27 tháng 10 năm 1963, phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc đã có  cuộc tiếp xúc riêng với Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết tại chùa Ấn  Quang. Ngài dự định tự thiêu trước chùa Ấn Quang để bằng hành động tỏ  với phái đoàn điều tra tâm nguyện của Phật giáo đồ, nhưng vì chính quyền  ngăn trở đề phòng, Ngài bèn chuyển bước âm thầm đến công trường Hòa  Bình - Nhà thờ Đức Bà – đối diện Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn thực  hiện ý định của mình.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Vào lúc 10 giờ 30 sáng hôm đó, Đại đức Thiện Mỹ đã tự thiêu ngay dưới  cột đèn, có gắn bảng đường Tự Do. Lúc Đại đức mới châm lửa vào áo tẩm  xăng sẵn, thì có một số đồng bào từ trong nhà thờ đi ra, và người đi  đường xúm lại bao quanh lễ Ngài và các phóng viên ngoại quốc đã được  thông tin trước chạy đến.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Một phút sau, cảnh sát ập lại, lấy mền đè Đại đức ngã xuống. Nhưng  ngọn lửa bùng lớn, làm cháy luôn cái mền. Cảnh sát vùng chạy, Đại đức  lại từ từ ngồi ngay dậy, chấp tay vái lạy những Phật tử bên đường đang  lễ Ngài, cho đến lúc Ngài tịch diệt.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Các phóng viên đã quay phim chụp ảnh cảnh tượng này nhưng bị cảnh sát  giật lấy đi. Khi bốn người phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc hay tin  đến nơi, thì xe cứu hỏa vẫn còn đang xịt nước hầu xóa đi dấu tích của vụ  tự thiêu. Trong khi đó, đồng bào đã tụ họp lại biến thành một cuộc biểu  tình để phản đối chính quyền đã cố tình làm ngơ những nguyện vọng của  Phật giáo đồ Việt Nam, và để tưởng niệm đến một bậc vị pháp thiêu thân  nữa vừa hiến mình cho sự trường tồn của đạo pháp.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Trước lúc ra đi về cõi tịch diệt, Ngài đã viết bốn bức thư để lại:&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;- Gửi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;- Gửi cho đức Hội chủ Phật giáo Thích Tịnh Khiết;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;- Gửi cho ông U-Thant, Tổng thư ký Liên hiệp quốc.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;- Gửi cho Phật giáo đồ Việt Nam, kêu gọi hãy tiếp tục cuộc đấu tranh  đòi quyền tự do bình đẳng của Phật giáo cho đến khi thành tựu.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Đại đức ra đi vào lúc tuổi đời tròn 23 với 3 Hạ lạp. Sự hy sinh cao  cả và phi thường của Đại Đức đã gây xúc động mạnh toàn thế giới, gây khó  khăn cho chính quyền Diệm và cũng thúc đẩy phái đoàn điều tra Liên hiệp  Quốc mau chóng hoàn tất nhiệm vụ, để cứu vớt Dân tộc Việt Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngọn lửa tự thiêu của Thích Thiện Mỹ là ngọn lửa thứ 8 của Phật-giáo  Việt-Nam và cũng là ngọn lửa cuối cùng báo hiệu sự sụp đổ của chế độ bạo  quyền kỳ thị tôn giáo và là ngọn lửa thiêng châm vào bể căm hờn âm ỉ  trong lòng quân dân Việt Nam bùng lên dữ dội, bốc thành biển lửa cách  mạng đốt thiêu một chế độ tàn bạo đen tối chỉ sau bốn ngày.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự hy sinh của Đại Đức Thích Thiện Mỹ, quả đã đưa cuộc đấu tranh đầy  nguy hiểm gian nan khổ cực của Phật-giáo Việt-Nam đến chổ toàn thiện và  toàn mỹ. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, quân đội thuộc chánh quyền bấy giờ đã  thực hiện cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, chấm dứt  giai đoạn tăm tối của đêm dài lịch sử pháp nạn Phật giáo ở miền Nam Việt  Nam.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;4.&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;Ý NGHĨA TỪ CUỘC TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự hy sinh phi thường, dũng cảm của HT Thích Quảng Đức với hình ảnh  ngài ngồi yên tư  thế tọa thiền trong ngọn lửa  hồng đã như làn sóng  điện cực mạnh lan khắp trong nước và thế giới, hàng triệu trái tim con  người quàn thắt trước sự hy sinh cao cả của Ngài. Báo chí, truyền thanh,  truyền hình đã loan truyền các tin tức và hình ảnh của Ngài đang ngồi  kiết già trong ngọn lửa rực cháy với những lời ngợi ca khâm phục trên  khắp năm châu. “&lt;em&gt;Đây là một gương Đại Hùng Đại Lực, tinh tiến bất  chuyển mà chúng ta thường nghe nói. Sự hy sinh cao cả của Ngài là một  tiếng chuông gọi đàn cho hàng tứ chúng.” Và cũng là ngọn đuốc soi sáng  lương tri những kẻ vô minh&lt;/em&gt;”.[18]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Cuộc tự thiêu của Ngài là ngọn đuốc sáng cho phong trào tranh đấu của  Tăng Ni Phật tử đòi bình đẳng tôn giáo. Biết bao nhiêu người con Phật  đã ngã xuống, bao nhiêu Tăng, Ni, Phật giáo đồ đã bị bắt bớ, đánh đập  tra khảo, bị cướp mất xác. Vẫn còn đó những Thánh tử đạo đã noi tấm  gương Ngài tự thiêu như Đại đức Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Quảng Hương,  Thiện Mỹ, Thượng tọa Tiêu Diêu, Ni cô Diệu Quang… và còn đó những cái  chết oanh liệt của Quách Thị Trang, Nhất Linh, những sự hy sinh không  thương tiếc thân xác của Mai Tuyết An và cả những người vô danh nữa đã  noi gương Bồ tát Thích Quảng Đức hiến dâng trọn đời mình cho Đạo pháp.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Mục Sư Donakds Harring Ton (Mỹ) đánh giá cái chết của Hòa Thượng  Thích Quảng Đức giống như cái chết của Chúa Giê-Su, Michqel Servetus,  Jeanne d’Are cho rằng cái chết của Hòa thượng Thích Quảng Đức cao cả hơn  hành động mổ bụng của người Nhật. Vì &lt;em&gt;“sự tự thiêu của Ngài đã cứu  vớt bao sinh linh chìm đám trong khổ hận, kẻ đàn áp cũng như những người  bị đàn áp đều bừng tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son vào trang sử huy  hoàng của Phật Giáo ở Việt Nam”.&lt;/em&gt;Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc rúng  động trước chính sách kỳ thị tôn giáo  tại miền Nam Việt Nam, dư luận  Mỹ quay sang chống Diệm và gia đình trị của Ông ta.[19]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã biến tấm áo Cà Sa với tấm thân tứ đại làm một  giàn hỏa thiêu cả một chế độ kỳ thị tôn giáo. &lt;em&gt;“Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một việc rất hay là Ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ Ông”&lt;/em&gt;.  Khi phong trào phản kháng của Phật giáo lên cao, ngày 1 tháng 11, Quân  lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện cuộc đảo chính lật đổ tổng thống. Ngô  Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị ám sát ngày hôm sau&lt;sup&gt;]&lt;/sup&gt; chấm dứt một chế độ gia đình trị, tôn giáo trị của gia đình họ Ngô đã nợ mang đầy nợ máu với đất nước.&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 – 1963) tự thiêu cách đây đã 48 năm,  nhưng ánh lửa từ bi cùng trái tim bất tử của Ngài vẫn còn tỏa sức sống  trong lòng đạo pháp và dân tộc. Để ghi nhớ công hạnh của Ngài, sau khi  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Hội đồng Lưỡng viện Tăng  Thống và Hóa Đạo trong một phiên họp trước ngày Phật Đản năm 1964, đã  đồng thanh quyết nghị suy tôn Ngài pháp vị Bồ Tát. Sau ngày đất nước  thống nhất. Nhà nước dùng pháp hiệu của Ngài đặt tên cho đường Nguyễn  Huê cũ chạy qua trước Chùa Quan Thế Âm là đường Thích Quảng Đức, quận  Phú Nhuận.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Quả tim Bồ Tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của  muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình tự do và bình đẳng nhưng  cũng bất khuất trước nạn cường quyền và áp bức. Trái tim ấy trở thành  biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại  đã và đang đấu tranh mãi cho tự do hòa bình, hạnh phúc nhân sinh.[20]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Từ năm 2004, Thành ủy và UBND TP.HCM đã chỉ đạo xây tượng đài Bồ tát  Thích Quảng Đức ở nơi Ngài tự thiêu vào 47 năm trước và đầu năm 2005  chọn xong mặt bằng rộng 1.848m2 góc đường Cách Mạng Tháng Tám -Nguyễn  Đình Chiểu để thực hiện. Năm 2007 kết thúc cuộc thi sáng tác mẫu tượng  đài và phù điêu với giải chính thức trao cho hai tác giả: Võ Công Chiến -  Võ Công Thắng. Công trình khởi công từ 6.11.2007, hoàn thành 17.9.2010,  tổng đầu tư hơn 23 tỉ đồng. Tượng Bồ tát và phù điêu đúc bằng hợp kim  đồng. Tượng cao 6m, đường kính 4m, đúc theo mẫu của các tác giả đoạt  giải nêu trên. Phù điêu cao 3m, dài 12m, mô tả khái quát lịch sử đấu  tranh cách mạng của phật tử và các tầng lớp nhân dân. Công viên có sân  lễ, hồ sen, thảm cỏ, cùng một số công trình phụ khác xây bằng các vật  liệu bền vững như đá xanh, đá trắng chở từ các tỉnh về. Tại lễ khánh  thành hôm 18.9, ông Lê Tôn Thanh - Phó giám đốc Sở Văn hóa thông tin và  Du lịch đã nhấn mạnh: &lt;em&gt;“Đây là công trình trọng điểm đặc biệt của  thành phố, đưa vào sử dụng nhằm phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, phục  vụ nhân dân thành phố cũng như đồng bào và phật tử cả nước”.&lt;/em&gt;[21]&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sự hy sinh của Bồ tát Thích Quảng Đức một lần nữa khẳng định con  đường nhập thế của Đạo Phật luôn đồng hành cùng với dân tộc suốt mấy  ngàn năm từ thời Phật giáo du nhập. Những người con Phật không từ nan  trong bất cứ một khó khăn nào cho sự tồn vong của dân tộc Việt Nam. Đó  là tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình và khát vọng tự do không chịu  khuất phục trước cường quyền bạo lực nào.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;1. Lê Cung, Phong trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963, NXB Thuận Hóa Huế - 2008&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;2. Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.44&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;3. Thích Thiện Hoa, Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, (1920 – 1970), http://www.phatviet.com&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;4. Cư sĩ Nguyễn Đức Can, Bồ tát Thích Quảng Đức và quả tim bất diệt, http://www.quangduc.com&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;5. Bách khoa toàn thư mở, Thích Quảng Đức, http://vi.wikipedia.org&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;6. Thích Đồng Bổn chủ biên, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX – Tập II, NXB Tôn giáo – Hà Nội,  http://old.thuvienhoasen.org&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;7. Lê Quang Thái, Đài Thánh Tử đạo, dấu ấn mùa Phật đản năm 1963, http://www.lieuquanhue.vn&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;8. Trần Tuyết Hoa, Thánh tử đạo Diệu Quang, Báo Giác Ngộ số Phật đản PL. 2546, http://www.buddhismtoday.com&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;9. Giao Hưởng, Âm vang cuộc tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức, http://www.thanhnien.com.vn&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;hr style="margin-left: 0px; margin-right: 0px;" size="1" width="33%"&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[1] Cư sĩ Nguyễn Đức Can, Bồ tát Thích Quảng Đức và quả tim bất diệt, http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/34botatquangduc.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[2] Thích Quảng Đức, http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%E1%BB%A9c&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[3] Lê Quang Thái, Đài Thánh Tử đạo, dấu ấn mùa Phật đản năm 1963, http://www.lieuquanhue.vn/index.php/7/29/3303.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[4] Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.44&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[5] Cư sĩ Nguyễn Đức Can, Bồ tát Thích Quảng Đức và quả tim bất diệt, http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/34botatquangduc.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[6] Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.284&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[7] Thích THiện Hoa, Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, (1920 – 1970), http://www.phatviet.com/pgvn/50nam/50n1502.htm&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[8] Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.347&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[9] Sđd, tr.354&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[10] Sđd, tr.354&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[11] Trần Tuyết Hoa, Thánh tử đọa Diệu Quang, Báo Giác Ngộ số Phật  đản PL. 2546, http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/nguoi/dieuquang.htm&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[12] Thích THiện Hoa, Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, (1920 – 1970), http://www.phatviet.com/pgvn/50nam/50n1505.htm&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[13] Thích Đồng Bổn chủ biên, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX –  Tập II, NXB Tôn giáo – Hà Nội,   http://old.thuvienhoasen.org/danhtang2-giaidoan4-22.htm&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[14] Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.474-475&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[15] Sđd, tr.475&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[16] Thích Thiện Hoa, Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, (1920 – 1970), http://www.phatviet.com/pgvn/50nam/50n1507.htm&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[17] Quốc Tuệ, Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, tr.453-454&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[18] Cư sĩ Nguyễn Đức Can, Âm vang cuộc tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;http://www.chuaphuclam.com/home/index.php?option=com_content&amp;amp;view=article&amp;amp;id=309:am-vang-cuc-t-thieu-ca-b-tat-thich-qung-c-&amp;amp;catid=46:lich-su&amp;amp;Itemid=68&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[19] Cư sĩ Nguyễn Đức Can, Bồ tát Thích Quảng Đức và quả tim bất  diệt, http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/34botatquangduc.html&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[20] Thích Đồng Bổn chủ biên, Trích Danh Tăng Việt Nam, Tập I, Tiểu  sử Bồ tát Thích Quảng Đức, Thành Hội Phật Giáo, Thành Phố Hồ Chí Minh  Xuất Bản 1997,  http://diendan.daitangkinhvietnam.org/viewtopic.php?f=19&amp;amp;t=2009&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;[21] Theo Giao Hưởng, TN&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-407275308348443672?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/407275308348443672/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=407275308348443672' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/407275308348443672'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/407275308348443672'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2011/05/anh-huong-tu-cuoc-tu-thieu-cua-hoa.html' title='Ảnh hưởng từ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam năm 1963'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-uGVurGHNcfQ/Td-M4I3ED1I/AAAAAAAAE1g/q4p58_4ymLM/s72-c/images-2011-quy2-ThichQuangDuc_1__755338527.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-3799653348794491487</id><published>2011-02-05T14:18:00.004+07:00</published><updated>2011-02-05T14:30:08.618+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nghệ thuật'/><title type='text'>"Mượn tiếng ca để chuyển tải ý đạo"</title><content type='html'>&lt;div align="right"&gt;&lt;em&gt;Pháp Như&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Âm nhạc đối với tôi là một chất liệu không thể thiếu trong cuộc sống. Tôi đến với âm nhạc như là một định mệnh mà tạo hóa đã sẵn dành.&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt; &lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5570104138549233090" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 287px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TUz8M8wpBcI/AAAAAAAAE1Y/mSPYOqHA5-k/s400/phapnhu_baolatinhthay2_1123304337%255B1%255D.jpg" border="0" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;p align="justify"&gt;Từ khi còn là một đứa trẻ, lúc nào tôi cũng ê a hát, dù tôi hát không hay nhưng được cái nhiệt tình. Hình như là tôi biết hát trước khi biết nói! Cho đến khi mẹ tôi sinh các em tôi, những ngày mẹ đi bán ở chợ hay những lúc mẹ vắng nhà, thì tôi là người thay mẹ để hát ru cho các em tôi ngủ. Đến khi tôi lớn, vì quá mê hát tôi phải trốn nhà đi học hát cho bằng được. Với những đồng lương làm việc ít ỏi của mình lúc đó, tôi đã dành một ít để chi phí cho việc học hát. Bấy giờ, tôi chỉ nghĩ đi học hát để hát cho vui thôi, chứ cũng không suy nghĩ gì nhiều. Thật tình thì ba mẹ tôi cũng không thích tôi đi hát. Nhiều đêm tôi đã trốn ba mẹ, có khi ba mẹ không cho đi cửa trước, thì tôi trốn cửa sau. Tôi cũng không hiểu tại sao nữa, chỉ biết rằng ca hát là niềm đam mê của mình thôi. Dù tôi buồn cách mấy đi nữa, chỉ cần cất tiếng hát lên, tôi đều quên đi hết và cảm nhận một niềm vui khó tả. Tôi đã vượt qua nhiều khó khăn để mỗi đêm được đứng trên sân khấu, dưới ánh đèn màu mà hát. Có những lúc phải xin người ta để được hát, hoặc có đêm ngồi đợi đến khuya cũng vẫn không được hát. Nhiều đêm hát không được một đồng thù lao nào, hoặc đôi lúc chỉ được một khoản rất ít ỏi. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Với sự nổ lực học hỏi, tôi cũng đạt được một số giải thưởng trong các cuộc thi văn nghệ tại Phan Thiết – Bình Thuận quê hương tôi. Cho đến khi xuất gia, tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ không hát nữa, nhưng hình như định mệnh đã buột chặt tôi với âm nhạc. Tôi nhớ những lúc nghĩ giải lao ở lớp Sơ cấp Phật học Gò Vấp, các huynh đệ hay yêu cầu tôi hát. Khi đó tôi chỉ nghĩ mình hát cho huynh đệ nghe để giảm bớt căng thẳng sau giờ học. Nhưng mọi người càng nghe thì càng thích, và có người khen giọng ca của tôi. Thế là, mỗi khi chùa của các huynh đệ có lễ hội, họ mời tôi đến hát góp vui. Tôi cũng đã suy nghĩ nhiều về việc này. Có nên chăng? Cuối cùng tôi đã đi đến quyết định: thay vì hồi xưa tôi hát những bài nhạc đời yêu đương sầu khổ, thì bây giờ tôi cũng hát những ca khúc mang âm hưởng Phật giáo để xoa dịu nỗi buồn, và làm tăng đạo tâm cho mọi người khi đến học Phật. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Năm 2005, tôi bắt đầu đi thu âm lại giọng ca của mình, đơn giản chỉ để nghe cho vui thôi. Sau đó, tôi tặng cho một số người làm quà. Họ nghe và khen hay. Thế là mọi người “yêu thích” giọng hát của tôi hồi nào chẳng biết. Cho đến năm 2006, tôi đoạt Huy chương vàng tiếng hát sinh viên trường đại học Tôn Đức Thắng, tôi mới thật sự hoạt động ca nhạc một cách tự tin hơn, vì thấy mình cũng có “thực lực”. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Những năm gần đây, đạo tràng tu học và sinh hoạt ngày càng nhiều ở các tỉnh thành. Nhu cầu học Phật lan rộng cùng với sự phát triển của các lễ hội, thì âm nhạc đóng vai trò không nhỏ. Sau những giờ phút tu học, mọi người thường muốn thưởng thức những ca khúc Phật giáo. Phải nói rằng, nhờ sự ra đời và phát triển của Câu lạc bộ Hoằng Pháp Trẻ mà tiếng hát của tôi có điều kiện “được bay xa đến với mọi người”. Sự dấn thân không nghi ngại trên mọi nẽo đường giúp tiếng hát của tôi đến với nhiều đạo tràng vùng sâu vùng xa. Có thể nói, tôi “đi hát còn nhiều hơn đi giảng dạy”. Lúc đầu tôi không vừa lòng, nhưng sao đó suy nghĩ, mỗi người có một cái “nghiệp” khác nhau, nên “đành phải chấp nhận hơn là phản kháng”. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Giữa lúc thị trường âm nhạc Việt Nam đang bảo hòa, thì ca khúc Phật giáo xuất hiện đã tạo nên một luồng gió mới. Nhiều ca khúc thị trường làm cho con người xao động, thì ca khúc Phật giáo với ca từ và giai điệu mượt mà, êm đềm, tạo cho người nghe một sự an lành. Với khối lượng lễ hội, các đạo tràng tu học cùng sinh hoạt thì nhạc Phật giáo ngày càng nhiều thì việc tu sĩ hát như tôi là một chuyện rất bình thường. Theo tôi nghĩ, người tu sĩ không chỉ có lời kinh tiếng mõ, mà trong những lễ hội hay sinh hoạt ở các trường Phật học, đôi lúc cũng phải biết hát một vài bài nhạc Phật giáo đễ cho khỏi khô khan. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Tôi chưa bao giờ nhận mình là một ca sĩ mà luôn tự nhủ mình chỉ là một “tu sĩ hát” mà thôi. Nhưng dù là một “tu sĩ hát” thì cũng phải có một chút ít chuyên môn, biết một chút về thanh nhạc, nhạc lý và phải thật sự hát hết mình thì mới không gượng gạo trước đám đông. Có nghĩa là phải thể hiện nghiêm túc và “chuyên nghiệp” thì mới thuyết phục người nghe. Làm sao khi mình xuất hiện giữa sân khấu luôn giữ được phong cách của một người tu, và cũng có một chút “nghệ sĩ tính” để vừa không gò bó vừa giữ được chất “tu sĩ” của mình. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Để chuẩn bị cho một ca khúc hay một tiết mục nào đó trước mọi người, tôi phải chuẩn bị rất nhiều về tâm lý cho đến hòa âm phối khí, và các xử lý ca khúc sao cho hay, cho lạ. Sự thành công cho một ca khúc dựa trên nhiều tiêu chí như: sức khỏe, tâm lý cùng với sự hưởng ứng nhiệt tình của khán giả. Có những ngày tôi hát đến 20 bài ở một đạo tràng mà Phật tử vẫn thích nghe. Tôi không sợ mọi người khen hay chê, chỉ cần mọi người muốn ngồ nghe, thì tôi sẽ hát cho đến khi nào không hát được nữa! &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Phải nói rằng hát nhạc Phật giáo rất khó, đòi hỏi sự am hiểu về giáo lý và sự cảm thụ âm nhạc tốt. Nhạc Phật giáo rất khó cảm, đòi hỏi phải có nhiều thời gian mới hiểu và cảm được. Với người tu sĩ, khi trình bày một ca khúc Phật giáo hay, sẽ có tính thuyết phục hơn một ca sĩ không hiểu về giáo lý của nhà Phật. Có hai vấn đề nan giải là, những ca sĩ có chuyên môn về nghệ thuật lại không hiểu về giáo lý, còn tu sĩ hiểu về giáo lý lại không có chuyên môn về âm nhạc, nên khi một ca khúc được hát lên đã gây nên một sự hời hợt trong ca từ đối với người ca sĩ, và không có kỹ thuật thanh nhạc đối với tu sĩ. Mà ca sĩ muốn biết giáo lý để hiểu ca từ trong ca khúc Phật giáo, thì đòi hỏi phải có thời gian tìm hiểu và học pháp, còn tu sĩ muốn hát cho hay, cần phải quan tâm đến việc học thanh nhạc. Thanh nhạc không phải học ngày một, ngày hai, mà phải là thời gian dài. Trong thanh nhạc có những kỹ thuật và cách xử lý của một ca khúc làm sao cho hay, để người nghe chấp nhận, đây là một vấn đề thú vị. Rất may tôi được học thanh nhạc khi chưa xuất gia nên việc hát đối với tôi không khó lắm. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Tuy nhiên, hát hay là một chuyện, mà bản lĩnh sân khấu lại là một chuyện khác. Nếu mình vừa hát hay, vừa làm chủ được sân khấu, thì chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh, đó là thành quả của lao động nghệ thuật. Trong các lĩnh vực nghệ thuật của Phật giáo, âm nhạc cũng thường được nhắc đến qua các kinh điển, cụ thể là hình ảnh được chư thiên cúng dường lúc Phật còn tại thế. Tuy nhiên, đối với giới luật của người xuất gia, thì không được “ca vũ xướng kỹ”. Nhưng “âm nhạc không có tội” mà điều đáng nói ở đây là hát với nội dung gì. Nếu tôi hát những lời kinh được trích dẫn từ trong kinh hay những lời ca ngợi Tam Bảo, thì đó cũng là một cách tán thán, hay ca ngợi những điều tốt đẹp của Phật pháp, điều đó cũng nên làm lắm chứ! Do đó, khi hát, ca từ và giai điệu của bài hát Phật giáo mới là chính, còn phần tôi – người hát, chỉ “mượn tiếng ca để chuyển tải ý đạo” làm cho mọi người hiểu và yêu Phật pháp hơn mà thôi. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Có thể thấy bây giờ một đêm văn nghệ của Phật giáo có sức cuốn hút quần chúng rất lớn, không những có sự tham gia của các ca sĩ chuyên nghệp mà còn có quý thầy cô trẻ yêu âm nhạc nữa, chẳng phải riêng tôi. Bên cạnh đó các gia đình Phật tử cũng đóng vai trò quan trọng và đặc biệt thành phần tham dự đa dạng hơn, không chỉ Phật tử lớn tuổi nghe, mà còn cả thanh thiếu niên đều rất thích thú. Miễn biên tập và tổ chức tốt, thì chắc chắn chương trình sẽ thu hát được quần chúng. Đừng xem văn nghệ trong Phật giáo là một chương trình phụ, theo tôi, đã không làm thì thôi, còn làm thì phải đến nơi đến chốn. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;Khi tu sĩ hát cũng là một nét đẹp của Phật giáo trong thời hiện đại, mà đó cũng là một cách “hội nhập” với mọi người. Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cuộc sống và rất cần thiết đối với những Tăng Ni sinh trẻ muốn dấn thân trên đường hoằng pháp hiện nay. Tôi cũng chỉ là một Tăng sinh trẻ, với tình yêu Phật pháp và yêu âm nhạc, mong muốn đóng góp một phần công sức của mình vào âm nhạc Phật giáo dù là rất nhỏ nhoi. &lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-3799653348794491487?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/3799653348794491487/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=3799653348794491487' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/3799653348794491487'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/3799653348794491487'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2011/02/muon-tieng-ca-e-chuyen-tai-y-ao.html' title='&quot;Mượn tiếng ca để chuyển tải ý đạo&quot;'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TUz8M8wpBcI/AAAAAAAAE1Y/mSPYOqHA5-k/s72-c/phapnhu_baolatinhthay2_1123304337%255B1%255D.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-7487026356192505796</id><published>2010-12-06T17:26:00.016+07:00</published><updated>2010-12-06T18:04:37.485+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Du lịch'/><title type='text'>Vĩnh Tràng - ngôi chùa nổi tiếng miền Tây Nam Bộ</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPzCybvMEKI/AAAAAAAAE00/Y3YoHalwloU/s1600/DSC00128.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547523012708536482" style="FLOAT: right; MARGIN: 0px 0px 10px 10px; WIDTH: 300px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPzCybvMEKI/AAAAAAAAE00/Y3YoHalwloU/s400/DSC00128.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;DẪN NHẬP&lt;br /&gt;Theo đoàn thực tập môn Du lịch danh lam cổ tự của khoa Phật giáo Việt Nam thuộc Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đến chùa Vĩnh Tràng vào một buổi sáng ngày 31 tháng 10 năm 2010. Cũng như bao sinh viên khác, tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của ngôi chùa này. Dù đã có lần tôi nghe các bạn thuyết trình về bộ tượng Thập bát La Hán bằng gỗ của chùa Vĩnh Tràng mà những người nghệ nhân Nam bộ đã tạc vào thế kỷ XIX nhưng tôi cũng không ấn tượng lắm. Cho đến hôm nay, khi đứng trước ngôi chùa này tôi mới cảm phục trí tuệ tài hoa và đôi tay khéo léo của người xưa đã để lại một công trình có một không hai trên dãi đất hình chữ S. Lúc đó tôi cũng chưa có ý tưởng sẽ làm bài về ngôi chùa này mà đang hướng đến một ngôi chùa khác. Tôi chụp lại một vài tấm ảnh để làm kỷ niệm cho một chuyến đi như bao nhiêu người đến đây. Khi xem lại những bức ảnh của mình vừa chụp lại tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của ngôi chùa này trong ảnh.&lt;br /&gt;Khác với những ngôi chùa của Sài Gòn nằm len lỏi giữa nhà cửa heo hút với không gian chật chội thì nơi đây có khoảng không gian trống và những công trình với kiến trúc lạ mắt làm cho ai đến đây cũng có cảm giác muốn tìm hiểu nó hơn. Tôi tìm đọc những tài liệu về ngôi chùa này và thấy thích thú về nó. Chính vì vậy mà tôi cùng với một huynh đệ nữa đã trở lại nơi đây vào ngày 26 tháng 11 năm 2010 để tìm hiểu về “Ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây” này. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy nơi đây cùng với sự tham khảo của những bài viết trên các trang báo mạng tôi cũng đã hoàn thành bài viết này. Do thiếu kiến thức về kiến trúc cũng như sự am hiểu về lịch sử nên không tránh khỏi những sơ sót trong bài viết này. Với vốn kiến thức ít ỏi của mình, tôi cũng mạo muội viết về ngôi chùa này với đề tài “Vĩnh Tràng – ngôi chùa nổi tiếng miền Tây Nam bộ” thông qua những lời hướng dẫn của quý thầy trong chùa cùng những tài liệu khác để làm nổi bật vẻ đẹp của ngôi chùa nổi tiếng này.&lt;br /&gt;NỘI DUNG&lt;br /&gt;1. TỔNG QUÁT VỀ NGÔI CHÙA VĨNH TRÀNG&lt;br /&gt;1.1. Vị trí địa lý&lt;br /&gt;Chùa Vĩnh Tràng là một trong những ngôi chùa cổ ở miền Tây Nam bộ. Chùa nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Mỹ Tho, ven tỉnh lộ 22, được tọa lạc trên một mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 ha, đường Nguyễn Trung Trực, thuộc địa phận ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Điện thoại liên lạc: 0733873427 – 0733876341.&lt;br /&gt;Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông, là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế - Trí Huệ với số lượng Tăng chúng tu học hiện nay là chín vị dưới sự hướng dẫn của thượng tọa Thích Huệ Minh trưởng ban Trị sự tỉnh Tiền Giang và cũng là người đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Quản trị chùa.&lt;br /&gt;Chùa được Nhà nước công nhận di tích văn hóa cấp quốc gia từ ngày 06 tháng 12 năm 1989. Hiện là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và chùa đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua của du khách khi đến tham quan thành phố Mỹ Tho.&lt;br /&gt;1.2. Lịch sử hình thành và xây dựng&lt;br /&gt;Ban đầu chùa Vĩnh Trường mới chỉ là một cái am nhỏ, mái lá vách đất, quang cảnh hoang vu, do ông bà Huyện Bùi Công Đạt làm quan dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840) tạo dựng. Sau khi hưu trí, ông bà về đây cất am để tu hành nên nhân dân trong vùng quen gọi là chùa ông Huyện. Sau đó, ông bà mời Đại sư Huệ Đăng về trụ trì chùa và dạy chữ nghĩa cho con. Năm 1849, hòa thượng Huệ Đăng ở chùa Giác Lâm (Gia Định) về trụ trì và khởi tạo xây chùa, ngoài việc lo kinh kệ, ngài Huệ Đăng còn gánh đất đắp nền cùng với nhiều đạo hữu đến giúp. Ông đặt tên là chùa Vĩnh Trường với ngụ ý ước cho chùa được:&lt;br /&gt;永久對天河&lt;br /&gt;長存齊天地&lt;br /&gt;"Vĩnh cửu đối sơn hà,&lt;br /&gt;trường tồn tề thiên địa".&lt;br /&gt;Qua thời gian người dân vùng lân cận đến nay vẫn quen gọi là chùa “Vĩnh Tràng”. Nhà thơ Xuân Thủy sau một lần đến thăm đã tặng chùa bốn câu thơ sau:&lt;br /&gt;"Đức Phật giàu tình thương&lt;br /&gt;Nên chùa tên Vĩnh Tràng&lt;br /&gt;Nhà sư vốn yêu nước&lt;br /&gt;Lòng như dòng Tiền Giang".&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;1.3. Các đời truyền thừa&lt;br /&gt;Ngài Huệ Đăng được xem là vị tổ khai sơn ngôi chùa này. Năm 1864, ngài mất trong lúc công việc chưa hoàn tất, vì ngài không có đệ tử kế truyền nên bổn đạo thỉnh ông Minh Đề làm trụ trì.&lt;br /&gt;Năm 1878, hòa thượng Minh Đề tịch hòa thượng Quản Ân thay thế được một thời gian rồi đi du học ở Thái Lan. Bổn đạo thỉnh sư Minh Truyện về chủ trì được một thời gian rồi cũng chuyển đi nơi khác. Vì chùa không có người chủ trì nên phật tử trong bổn đạo họp nhau lại bàn bạc và nhất trí đến hội ý hòa thượng Tổ Từ Trung, hoà thượng Trung (chùa Bửu Lâm, Mỹ Tho) đến thỉnh hòa thượng Trà Chánh Hậu (hiệu là Quảng Ân) về trụ trì, tiếp tục công việc của hòa thượng Huệ Đăng.&lt;br /&gt;Từ năm 1907 đến năm 1911, hòa thượng Trà Chánh Hậu đã khuyến giáo tín đồ góp công của đại tùng tu lại ngôi chùa, ông mời điêu khắc gia Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng thờ trong chùa. Tầng một của ngôi chùa được xây dựng với sự pha hòa cả nét kiến trúc Đông Tây đã tạo cho ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất so với các ngôi chùa khác của Việt Nam.&lt;br /&gt;Hòa thượng Lê Ngọc Xuyên, pháp danh Tục Thông, tự Tâm Liễu, pháp hiệu An Lạc là đệ tử kế thế của hòa thượng Quảng Ân lên thay. Đến năm 1930, ông lo chỉnh trang nóc chùa và mặt dựng bốn phía chùa. Cuối 1930, chùa được hoàn tất thêm ba gian và tầng hai của gian chánh điện. Năm 1933, ông cho xây hai cổng Tam quan và xây rào xung quanh. Ngày 22-6-1939 hòa thượng qua đời, thọ 67 tuổi.&lt;br /&gt;Thượng tọa Thích Trí Long là đệ tử được hòa thượng Lê Ngọc Xuyên di chúc làm trụ trì nhưng vì Thích Trí Long mới 19 tuổi nên thầy yết ma Tục Chơn tự Tâm Giác, là anh ruột của hòa thượng Tục Thông thay quyền trụ trì và làm vị sư bảo hộ. Ngày 25-3-1954 thầy Yết ma Tục Chơn mất (thọ 94 tuổi).&lt;br /&gt;Hoà thượng Trí Long, đời 41, trụ trì chùa từ năm 1955 đến năm 1987 thì viên tịch. Do không có người thừa kế nên nhà nước giao cho Tỉnh hội Phật giáo quản lý và đặt văn phòng làm việc của Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang. Từ năm 1987, Tỉnh hội bầu Ban trụ trì theo nhiệm kỳ. Các vị trụ trì qua các nhiệm kỳ là: hoà thượng Thích Bửu Thông, thượng tọa Thích Hoằng Từ, hoà thượng Thích Hoằng Thông, hoà thượng Thích Nhựt Long và hiện nay là thượng tọa Thích Huệ Minh.&lt;br /&gt;1.4. Kiến trúc&lt;br /&gt;Chùa Vĩnh Tràng được xây cất do công trình kiến trúc của nhiều người, trong nhiều năm, là một chùa lớn, được kiến trúc khá tinh vi, đa dạng theo lối kiến trúc tổng hợp Á - Âu (Pháp, La Mã, Thái, Miên, Chàm). Tuy nhiên, chùa vẫn mang đậm nét lối kiến trúc điêu khắc truyền thống Việt Nam. Chùa được kiến trúc theo dạng chữ Quốc, gồm bốn gian nối tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ và nhà hậu) rộng 14.000 m², dài 70 m, rộng 20 m, xây bằng xi măng và gỗ quý, nền đúc cao 1m, xung quanh xây tường vững chắc.&lt;br /&gt;Trước chùa có hai cổng tam quan kiểu võ khá quy mô, tráng lệ, xây theo kiểu cổ lầu, do những nghệ nhân xứ Huế thực hiện vào năm 1933, với sự tài trợ về kinh phí của hai ông Huỳnh Trí Phú và Lý Văn Quang. Nét độc đáo của cổng tam quan này thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành sứ có giá trị (sứ Trung Hoa, Việt Nam) minh họa lịch sử nhà Phật, in hình long, lân, quy, phượng, canh, mục, ngư, tiều, mấy câu đối cũng cẩn bằng miếng chai nổi mầu sắc óng ánh trông rất đẹp. Trong cổ lầu đặt tượng chân dung hoà thượng Chánh Hậu và hoà thượng Minh Đàng do nhà điêu khắc Nguyễn Phi Hoanh thực hiện. Tháng 10 năm 2005 (tức tháng 9 năm Ất Dậu DL.2549) Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang quyết định thay đổi hai bức tượng này và đưa vào nhà Tổ, thay vào hai pho tượng Phật. Tượng Phật Di Đà thay thế tượng Hòa thượng Chánh Hậu, tượng Phật Thích Ca thay thế tượng Hòa thượng Minh Đàn. Trên cổng phía đông có bức hoành phi được điêu khắc tinh xảo với bốn chữ “Tịnh độ huyền môn” và hai câu đối ghi nhớ công lao ngài Chánh Hậu: “Chánh đạo vĩnh khai truyền thế thế hòa quang triêm pháp vũ. Hậu ân trường phổ độ niên niên thượng ngưỡng nhuận từ phong.”. Người viết tạm dịch là: Chánh đạo vĩnh cữu khai truyền đời đời ngời sáng ngấm mưa pháp. Ân dày trường tồn phổ độ năm năm ngữa mặt thắm gió từ. Cổng phía tây cũng có bức hoành phi được cẩn sành sứ với bốn chữ “Phương tiện pháp môn” và hai câu đối: “An tâm hòa bỉnh công tâm tự tổ thiệu tông tăng vĩnh hữu. Lạc đạo thượng hành chơn đạo độ sanh tế chúng ích trường lưu.” Trên cổ lầu còn nhiều câu đối khác cũng được trạm trổ công phu. Cổng giữa của tam quan làm bằng sắt theo kiểu Pháp tạo nên một kiến trúc đa màu sắc và nhiều góc cạnh. Khác với các ngôi chùa khác ở Việt Nam cổng tam quan giữa thường lớn và đồ sộ hơn hai cổng bên nhưng cổng này rất nhỏ và chỉ mở vào những dịp lễ lớn của chùa và giáo hội nên ít được chú ý đến.&lt;br /&gt;Qua thời gian, hai cổng chùa nặng hàng chục tấn đã bị lún và nghiêng về phía bên trong hơn 150, có nguy cơ ngã đổ. Năm 2004, Ban trị sự chùa Vĩnh Tràng đã mời “thần đèn” Nguyễn Thành Lũy ở huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang) đến "cứu" cổng chùa. Công trình gia cố cổng khởi công ngày 11-03-2004 và hoàn thành vào cuối năm 2004.&lt;br /&gt;Điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất khi đến đây là kiến trúc của ngôi chùa này. Nó không giống như những ngôi chùa Việt Nam với mái uốn cong với những trạm khắc long phụng như ta thường gặp mà mang một nét rất riêng biệt. Mới nhìn từ xa tôi cứ ngỡ đây là một cái đền giống Ăng-co-vát của Cam-pu-chia, nhưng trông nó cũng giống một ngôi nhà cổ của Pháp hoặc một lâu dài của Ý nào đó. Theo lời truyền tụng của người dân đại phương thì hòa thượng Minh Đàng và ông Huỳnh Trí Phú đã đến đất nước Chùa Tháp nên đã tiếp thu được nét độc đáo ở nơi đây mà thiết kế xây dựng chùa Vĩnh Tràng. Chính vì vậy mà mặt tiền chùa Vĩnh Tràng lại mang một kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Ở đây có những hoa văn theo kiểu thời Phục Hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt của Pháp, gạch men của Nhật Bản... chữ Hán viết theo lối chữ triện cổ kính, còn chữ quốc ngữ lại viết theo lối chữ Gô-tích.&lt;br /&gt;Phía sau chánh điện là nhà tổ được nối với hàng lang đông và tây liền nhau theo kiểu Trung Quốc nhưng vẫn giữ được phong cách của Việt Nam. Giữa không gian trống của phía sau chánh điện và nhà tổ còn có một hòn non bộ phác họa cảnh nứi non chùa tháp, thiên nhiên hữu tình mang đậm bản sắc Việt Nam. Điều này chứng tỏ ông cha xưa của ta thích sống gần gũi với thiên nhiên nên đã được thiên nhiên vào tận nhà. Từ phía trước nhà tổ nhìn về phía sau chánh điện ta sẽ thấy một lối kiến trúc mang đậm nét Rôma châu Âu với những cột uy nghi với những vòm cong và hoa văn của Pháp đầy màu sắc sặc sở với chất liệu bằng bê tông nhưng vẫn nhẹ nhàng uyển chuyển tạo nên một kiến trúc đa dạng.&lt;br /&gt;Nhà hậu tổ là nơi thờ chư vị tiền bối và cũng là nơi trai đường, phòng tiếp khách và nhà Tăng chúng ở hai bên. Có kiến trúc cổ Việt Nam với cột kèo bằng gỗ và mái ngói. Nơi đây có nhiều bàn thờ Phật, Tổ, hương cốt. Trên nhà Tăng có treo thanh quy và những lời giáo huấn của các đại sư.&lt;br /&gt;Giảng đường Huệ Đăng. Ảnh: Pháp Như&lt;br /&gt;Mặt sau nhà hậu tổ và mặt trước của nhà tịnh trù lại có kiến trúc mái ngói bằng gạch của những ngôi nhà cổ Việt Nam nhưng với vòm cong mang đậm nét kiến trúc của Pháp. Đây là nét độc đáo làm cho ngôi chùa dù mang kiến trúc kết hợp Đông Tây nhưng vẫn rất Việt Nam. Sau cổng tam quan là một khoảng sân rộng trồng&lt;br /&gt;hoa kiểng, ao sen, hồ nước nhỏ. Giữa sân có tượng Phật Thích Ca tham thiền dưới cội bồ đề được xây dựng vào năm 1995, lúc đầu tượng màu trắng nhưng đến năm 2009 thì được đắp lại màu vàng. Nhà che của Phật bên dưới cây bồ đề được xây dựng vào năm 2009 với chất liệu bê tông. Phía bên phải công phía tây còn có tượng đài Bồ tát Quan Thế Âm lộ thiên. Đi thẳng vào còn có quầy hàng lưu niệm. Ở đây có các mặt hàng làm từ chất liệu dừa mang đậm phong cách của miền Tây Nam bộ. Trong khuôn viên phía trái ngôi chánh điện còn có hai vườn tháp với nhiều ngôi tháp cổ của các vị hoà thượng tiền bối.&lt;br /&gt;Kế tiếp là hòn non bộ trước vườn tháp tạo nên một không cảnh hài hòa giữa thiên nhân và nhân tạo. Phía sau bên phải chánh điện có phòng phát hành kinh sách với nhiều kinh sách và vật phẩm của Phật giáo rất đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung . Cách nhau một hồ nước nhỏ là giảng đường Huệ Đăng bên phải chánh điện là giảng đường Chánh Hậu dùng để thuyết giảng pháp khi an cư kiết hạ và tổ chức đại giới đàn của tỉnh hội.&lt;br /&gt;1.5. Cách bài trí các điện thờ trong chánh điện&lt;br /&gt;Chùa còn bảo tồn nhiều tượng cổ, hơn 60 tượng phật đúc bằng gỗ, đồng, đất nung, xi măng, đa số tượng bằng gỗ, tất cả được thếp vàng óng ánh và được tạo vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.&lt;br /&gt;Chánh điện được bài trí trang nghiêm, với vẻ trầm mặc quyện tỏa khói hương tạo nên sự thiêng liêng mầu nhiệm. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng như Phật Trung Tôn được làm bằng gỗ mít (có người cho rằng đó là tượng Đức Phật Thích Ca nhưng trên hòa quang lại có ghi dòng chữ Nam mô A Di Đà Phật) được ngự giữa chánh điện, đây là tượng Phật chính của ngôi chùa, hai bên Phật Trung Tôn còn có tượng hai vị Hộ Pháp như để bảo vệ chánh pháp. Lớp dưới có bộ tượng Di Đà Tam tôn (Đức Phật A Di Đà cao 98cm, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí cao 93cm ), đây là bộ tượng cổ nhất ở chùa được đức bằng đồng vào giữa thế kỷ XIX. Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ lâu. Sau này, hoà thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Lớp dưới có tượng Phật đản sanh, tượng Di Lặc và tượng Thất Phật Dược Sư được tôn trí ở án giữa.&lt;br /&gt;Bên trái án giữa điện Phật còn có tượng chân dung hoà thượng Chánh Hậu và bên phải là tượng chân dung của hoà thượng Minh Đàng như đang đứng chầu Phật. Phía bên trái điện Phật là án thờ ngài Tiêu Diện cầm cờ đối xứng với ngài Tiêu Diện là án thờ Hộ Pháp tay phải chống chày kim cang.&lt;br /&gt;Điều đáng chú ý nhất nhất là bộ tượng Thập Bát La Hán với sự bày trí như sau: chín vị La Hán bên trái đối xứng với chín vị La Hán bên phải được chia thành sáu án thờ, mỗi bên ba án: án thứ nhất có hai vị, án thứ hai có ba vị và án thứ tư có bốn vị được đặt hai bên điện Phật. Đây là những tác phẩm chạm khắc bằng gỗ độc đáo, mà một số nghệ nhân ở Nam bộ đã tạo vào năm 1907, mỗi tượng cao khoảng 0,8 m, bề ngang gối 0,58 m được, mỗi vị La Hán có bửu bối riêng của mình tượng trưng cho các giác quan mà giáo lý gọi là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; ở ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Các tượng La Hán này được tạo hình cân đối, sinh động, cưỡi trên những con thú như: trâu, bò, ngựa, lạc đà, hà mã, tê giác…&lt;br /&gt;Phía bên trái góc cuối chánh điện còn có một án thờ mẫu với hai người hầu, đây giống phong cách thờ của miền Bắc Việt Nam. Ở đây Thập Điện Minh Vương không bày trí hai bên tả hữu mỗi bên năm vị của chánh điện như các chùa thường gặp mà bố trí ba án khác nhau.&lt;br /&gt;Phía trái chánh điện về phía sau kế bên trái án mẫu có một án thờ năm vị Minh Vương. Phía bên phải chánh điện về phía sau kế bên phải án thờ Ngọc Hoàng có án thờ ba vị Minh Vương. Tượng Ngọc Hoàng ơ đây cũng bằng đồng to bằng người thật, không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên như các chùa khác; thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.&lt;br /&gt;Án thờ hậu tổ sau điện Phật là án thờ Đạt Ma sư tổ, bồ tát Quán Thế Âm và hai vị Minh Vương, tượng nữa. Bên cạnh đó nổi bậc nhất là tượng Địa Tạng cưỡi đề thính, đây là pho tượng rất độc đáo cùng thời với bộ tượng La Hán và cũng được chạm khắc công phu.&lt;br /&gt;Phía sau chánh điện có có án thờ ông Bùi Công Đạt cùng gia quyến.&lt;br /&gt;Nhà tổ phía trước có năm bàn thờ: tính từ trái sang có bàn thờ Quan Âm, bàn thờ Thế Chí, chính giữa thờ Bồ tát Chuẩn Đề và Bồ tát Địa Tạng, tiếp đến là bàn thờ Bồ tát Quan Âm và bàn thờ Bồ Tát Quan Âm cùng đồng nam đồng nữ.&lt;br /&gt;Phía trong nhà tổ là án thờ chư vị Hòa thượng tiền bối khai sơn tạo tự với nhiều bài vị. Trên là tượng của hòa thượng Huệ Đăng, bên trái là tượng của Hòa thượng Chánh Hậu và bên phải là tượng của ngài Minh Đàng. Phía bên trái án thờ chư vị hòa thượng khai sơn là án thờ Ưu Bà Di và bên phải là án thờ Ưu Bà Tắc.&lt;br /&gt;Phía sau án thờ tổ là Bát Nhã đường thờ Giám Trai Bồ tát và một số vị Bồ tát khác. Bên trái Bát Nhã đường thờ cốt của người nữ và bên trái thờ cốt của người nam.&lt;br /&gt;1.6. Biển, bảng, hoành phi, câu đối&lt;br /&gt;Bước vào từng gian nhà, ta sẽ thấy toát lên một màu vàng rực của tượng Phật, hoành phi, câu đối, bao lam được chạm khắc tinh xảo mang dáng vẻ rất cổ kính thời vua chúa Việt Nam. Đáng chú ý hơn cả là những đôi long trụ trong gian chính điện, đó là những cây cột tròn to, bằng gỗ quý được chạm khắc tinh xảo uốn lượn tạo nên vẻ sống động cho ngôi chùa.&lt;br /&gt;Ngoài ra trong chùa hiện nay còn hơn 20 bức tranh sơn thủy rất giá trị. Những bức tranh này được cư sĩ Long Giang vẽ vào năm 1904, tuy ảnh hưởng tranh vẽ của Trung Hoa nhưng lại mang đậm nét dân gian Việt Nam với những hình ảnh "Mai, lan, cúc, trúc" tạo nên phong cảnh Việt Nam rất hữu tình. Cho đến bây giờ những tác phẩm đó được giữ nguyên vẹn dù qua biết bao nhiêu thay đổi của thời gian của lịch sử có thay thăng trầm đó là do sự kế thừa gìn giữ của chư Tăng và bổn đạo ở đây.&lt;br /&gt;Điều đáng chú ý là những bức hoành phi, câu đối trong chùa được điêu khắc chữ nổi thếp vàng. Tiền đường có bột bức hoành phi chữ "Hoàng kim bửu điện" được khắc từ 1851 đến nay vẫn còn khá đẹp và hai cặp câu đối. Trong chánh điện có bốn bức hoành phi, một bức được chạm khắc bằng gỗ với ba chữ “Vĩnh Trường tự”, được đặt ở giữa chánh điện; một bức được chạm khắc bằng sơn mài cẩn xà cừ ghi: “Đại hùng bữu điện” hai bức còn lại được chạm khắc bằng gỗ ghi: “Pháp luân thường chuyển”, “Thường đạo hà xương” và bốn cặp câu đối. Trên điện Phật có một bộ bao lam trạm trổ công phu và có ghi “Vô lượng thọ” ở phía bên trái và “Vô lượng quang” phía bên phải. Sau chánh điện cũng có một bức hoành phi ghi “Vĩnh Trường tự” một bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia do bộ văn hóa cấp và ba cặp câu đối. Hành lang phía tây sau chánh điện nối liền nhà tổ cũng có hai cặp câu đối và hành lang phía đông cũng có hai cặp câu đối.&lt;br /&gt;Nhà tổ mặt trước có năm biển ghi nhận công đức của thiện nam tín nữ góp của xây dựng chùa được ghi bằng bằng chữ Hán với chất liệu gỗ sơn son và còn tôn trí mười cặp câu đối theo ba hàng: hành thứ nhất có bốn cặp, hàng thứ hai có bốn cặp và hàng thứ ba có hai cặp. Nhà tổ phía sau có bức hoành phi ghi “Bát Nhã đường”, một cặp câu đối và những hoa văn chạm khắc rồng quanh cột rất sắc xảo. Trong khuôn viên chùa còn có nhiều cây cảnh, hồ nước và hòn non bộ tô điểm thêm cảnh đẹp nơi đây và tạo nên một phong cảnh trầm mặc yên tỉnh làm cho du khách có cảm giác thư thái, nhẹ nhàng mỗi khi đến đây chiếm bái.&lt;br /&gt;1.7. Tháp mộ của các vị trụ trì và chư Tăng Ni đã qua đời&lt;br /&gt;Trải qua bao thăng trầm của lịch sử những ngôi tháp cổ ở đây cũng in đậm dấu thời gian tạo nên vẻ trầm mặc. Phải nói rằng vườn tháp của chùa Vĩnh Tràng cũng khá đẹp với nét cổ kính của nó. Trong chùa có hai vườn tháp với những kiến trúc mộ tháp riêng biệt nhưng vẫn hài hòa với không gian của chùa.&lt;br /&gt;Vườn tháp phía bên phải trước chánh điện trước có ba ngôi tháp. Tháp cao nhất của Hòa thượng Huệ Đăng, kế bên là tháp của Hòa thượng Pháp Tràng và kế tiếp nữa là tháp của Hòa thượng Trí Thanh. Mỗi tháp mang một dáng vẻ và lối kiến trúc khác nhau những vẫn tạo nên sự hài hòa khi đứng cạnh nhau đó cũng là nét riêng của đệ tử Phật dù có khác biệt đi nữa vẫn đồng một thể là con nhà Phật. Vườn tháp phía trái cuối hàng rào chùa là một vườn tháp rất đẹp mang đậm nét cổ kính. Phía trước ngôi mộ của ông bà Huyện Bùi Công Đạt là người đã tạo lập am tu hành ở đây là tháp của Hòa thượng Minh Đàng. Ngôi tháp của Hòa thượng Chánh Hậu, bằng đá trắng được xây dựng gần giảng đường Huệ Đăng. Bên cạnh những ngôi tháp nhỏ của gia quyến ông Bùi Công Đạt và con cháu của Hòa thượng Huệ Đăng còn có một số tháp của chư Tăng và ngôi tháp của một vị Tỳ kheo Ni. Nhìn chung vườn tháp ở đây có một vẻ đẹp trầm mặc tạo nên một không gian thiêng liêng nơi chốn giá làm này.&lt;br /&gt;1.8. Các tự khí, pháp khí trong chùa&lt;br /&gt;Hiện vật còn lại trong chùa này phải kể đến là Đại Hồng Chung mang tên Pháp Bảo Chuông cao 120cm, nặng khoảng 150 kg được đúc giữa tháng 5 năm 1854, dưới thời vua Tự Đức, trên đó khắc chữ "Vĩnh Trường Tự". Hiện nay Pháp Bảo Chuông không sử dụng được, bị hỏng do nằm lâu dưới nước sau thời gian thất lạc. Rất tiếc người viết chưa tận mắt nhìn thấy đại hồng chung và chưa chụp lại hình ảnh.&lt;br /&gt;Đại hồng chung mới của chùa đúc vào năm 1992, được đúc tại Huế chuyển vào đầy, cao 1m2, năng 500 kg, được đặt ở hậu đường phía bên phải sau chánh điện. Phía bên trái đối xứng với đại hồng chung là đại cổ pháp có khắc bốn chữ: “Vĩnh Trường pháp cổ” được tạo tác vào tháng ba năm Giáp Tuất với màu son đỏ khá đẹp.&lt;br /&gt;Điểm nổi bật ở ngôi chùa này còn lưu giữ nhiều bao lam với những chạm trổ rất tinh xảo. Có bảy bộ bao lam chính cùng nhiều bao lam phụ nhưng đặc sắc nhất là bộ bao lam bát tiên cưỡi thú được chạm trổ tinh xảo. Mỗi vị có một tư thế và cưỡi trên một con thú và cầm bữu bối khác nhau. Bên trái có bốn vị: tiểu đồng đứng trên lưng rùa với tay quẩy chiếc giỏ tre; một tiên sinh cưỡi ngựa với tay cầm ống bút, một thư sinh cưỡi hổ thổi sáo, một ông lão cưỡi đề thính vuốt râu. Bên phải có bốn vị: một vị trung niên cưỡi trâu tay cầm bình hồ lô, tiên nữ cưỡi hạc cầm hoa sen, một tiên sinh cưỡi lộc với tay vuốt râu và một ông lão kỳ lân với phất trần trên tay. Trên bao lam bát tiên còn có thần mặt trời cưỡi rồng và thần mặt trăng cưỡi phụng được chạm trổ rất công phu, do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907-1908.&lt;br /&gt;Bằng những vật liệu gỗ, những nhà kiến trúc, nhà điêu khắc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chạm khắc những hình tượng mang mầu sắc tôn giáo huyền ảo, thoáng đượm vẻ vương quyền, qua đó ta thấy được những công trình điêu khắc của người xưa - qua những hình tượng sống động ấy ta thấy rõ cuộc sống vui tươi và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam - một dân tộc tự nhận mình là dòng dõi con rồng cháu tiên thể hiện qua chạm khắc hình tượng tứ linh.&lt;br /&gt;1.9.Các ngày lễ chung của Phật giáo và lễ riêng của chùa&lt;br /&gt;Lễ hội lớn nhất ở đây phải kể đến là lễ Phật Đản được tổ chứ hằng năm được tổ chức trong vòng một tuần từ ngày mồng 8 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch. Lễ chính được diễn ra tại lễ đài Phật Di Lặc từ khi công viên này khánh thành và đưa vào hoạt động.&lt;br /&gt;Ngày rằm tháng bảy hằng năm nơi đây tổ chức cúng trai đàn cầu siêu bạc độ cho các vong linh, những chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, tổ chức đại lễ dâng y có thỉnh chư Tăng Ni trong và ngoài tỉnh đến dự.&lt;br /&gt;Vào những ngày rằm tháng giêng và tháng mười âm lịch bà con và Phật tử đến đây chiêm bái rất đông. Từ khi có công viên Vĩnh Tràng với tôn tượng Đức Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam thì nơi đây là nơi diễn ra lễ hội vía Đức Phật A Di Đà vào ngày 17 tháng 11 âm lịch hằng năm của chư Tăng Ni Phật tử và bà con nơi đây.&lt;br /&gt;Bên cạnh đó chùa còn có những ngày giỗ kỵ lớn như ngày 18 tháng giêng âm lịch hằng năm là giỗ của Hòa thượng Huệ Đăng, người đã khia sơn ngôi chùa này. Ngày 17 tháng 3 âm lịch là giỗ của Hòa thượng Pháp Tràng. Ngày mồng 1 tháng 5 âm lịch là giỗ của ngài Trí Long. Ngày 21 tháng 6 âm lịch là ngày giỗ hòa thượng Minh Đàng. Ngày 30 tháng 7 âm lịch là ngày giỗ Hòa thượng Chánh Hậu.&lt;br /&gt;Đây cũng là nơi tổ chức an cư kiết hạ cho chư Tăng của tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang hằng năm cho hơn trăm vị. Chùa được giữ hai kỷ lục của Việt Nam là “Ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây”, thời điểm xác lập kỷ lục là ngày 31 tháng 5 năm 2007 do Tổng giám đốc Vietbooks Lê Trần Trường An ký và kỷ lục thứ hai là: “Tượng Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam” thời điểm xác lập kỷ lục vào năm 2007.&lt;br /&gt;1.10. Tượng Phật A Di Đà trong công viên Vĩnh Tràng&lt;br /&gt;Vào ngày 14.1.2008 (nhằm ngày 8 tháng 12 lễ thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), ngôi chùa cổ Vĩnh Tràng nổi tiếng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã khánh thành tượng Phật Di Đà cao 18m và công viên chùa Vĩnh Tràng. Dự án được khởi công xây dựng vào 7/3/2007 (nhằm ngày 19 tháng giêng Đinh Hợi), hơn một năm mới hoàn thành một cách mỹ mãn do nhóm thợ và họa sĩ kiến trúc sư Thụy Lam thiết kế với sự khởi xướng của Thượng tọa Thích Huệ Minh.&lt;br /&gt;Sau khi thành phố Mỹ Tho được nâng cấp lên đô thị loại hai, với vẻ mỹ quan của ngôi chùa cổ nổi tiếng hơn 150 năm không thể để cảnh nhếch nhác với các cảnh lùm cây che khuất và mồ mả trước chùa nên Thượng tọa Thích Huệ Minh đã đề xuất và đứng ra chịu trách nhiệm với Ban trị sự tỉnh tạo lập một công viên trước chùa và chọn tượng Đức Phật A Di Đà để tôn trí nơi đây. Vì Đức Phật A Di Đà tượng trưng cho cõi Cực Lạc an vui để làm vơi bớt sự mệt nhọc của người dân sau những ngày lao động cực khổ không có thời gian đến chùa. Việc tạo dựng công viên A Di Đà trước chùa đã đáp ứng một phần nào về tín ngưỡng tâm linh của người dân. Có người đi làm qua công viên từ xa thấy tượng Phật cũng xá lễ khi không có thời gian đi chùa, có người muốn nghỉ ngơi thư giản sau những ngày mệt nhọc cũng vào ngồi dưới ghế đá dưới chân Đức Phật để thầm cầu nguyện cho cuộc sống bình yên. Pho tượng Phật A Di Đà cao tính từ chân đến đỉnh cao 18m, bệ cao 7m, nặng 150 tấn với chất liệu là bê tông cốt thép nguyên khối. Dù chất liệu bằng bê tông nhưng với màu sơn trắng pho tượng vẫn giữ được vẻ uy nghiêm và từ ái của Đức Phật. Pho tượng này đã được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận là tượng Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam. Tượng Phật A Di Đà lộ thiên chùa chùa Vĩnh Tràng cao và bề thế hơn so với tượng Phật A Di Đà lộ thiên tại chùa Long Khánh (cao 17m và đứng trên bệ cao 5m) trên đường Trần Cao Vân, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đặc biệt hơn nữa là tượng được đặt trong một công viên mà người dân ở đây hay gọi là “Công viên Phật”&lt;br /&gt;Công viên của chùa Vĩnh Tràng có hình tam giác được xây dựng trên diện tích 5.000m2, với các hạng mục như hệ thống hòn non bộ, hệ thống chiếu sáng, cây cảnh, ghế đá …Công trình có tổng kinh phí hơn 4,1 tỷ đồng với sự ủng hộ của chư Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước cùng sự hộ trì của người dân địa phương đã tạo nên một cảnh quan tôn nghiêm nơi này.&lt;br /&gt;1.11. Tôn trí tượng Phật Di Lặc trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng&lt;br /&gt;Vào ngày 22 tháng giêng năm 2010, chùa Vĩnh Tràng đã long trọng làm lễ khánh thành pho tượng Đức Phật Di Lặc với sự tham dự của chư tôn đức Tăng Ni, các cấp chính quyền, Phật tử và bà con gần xa. Tượng cao 20m, có chiều dài 27m, chiều rộng 18m, tổng trọng lượng nặng 250 tấn, được tạo hình ở tư thế an tọa rất gần gũi cuộc sống với nụ cười an nhiên và chiếc bụng to đặc trưng của ngài Di Lặc. Tượng được đặt trên một công trình giữa công viên trong tổng diện tích 5.000m2, được thi công trong khoảng thời gian 12 tháng bằng chất liệu bê tông cốt thép do nhà điêu khắc Thụy Lam thiết kế và được sự tham khảo, hướng dẫn của thượng tọa Thích Huệ Minh.&lt;br /&gt;Công trình phía dưới tượng là khoảng rổng được bố trí một tầng triệt và một tầng lầu. Tầng triệt gồm phòng họp của Thường trực Ban trị sự tỉnh Tiền Giang, 4 phòng nghĩ tiện nghi dành cho khách Tăng từ xa đến chùa. Tầng lầu gồm: Bố tát đường cũng là chánh điện, là nơi dành cho chư Tăng của tỉnh Bố tát tụng giới vào những ngày 14 và 30 mỗi tháng. Phía trước công trình của tượng Phật Di Lặc là một quảng trường rộng với lễ đài là nơi diễn ra những buổi lễ lớn của Phật giáo cũng như của Ban trị sự Phật giáo tỉnh. Ngoài ra công trình còn những hạng mục hàng rào quanh công viên, hệ thống hồ nước phun, hệ thống thoát nước, con đường mới dẫn vào tôn tượng đức Di Lặc, hệ thống điện và đèn chiếu sáng… tổng chi phí trên 8 tỷ đồng với sự ủng hộ tịnh tài của chư tôn đức Tăng Ni, sự cúng dường của Phật tử cùng một số ân nhân cho Ban quản trị mượn dài hạn công trình mới được hoàn mãn. Đây là công trình của Giáo hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.&lt;br /&gt;Việc khánh thành tượng Phật Di Lặc đã đáp ứng nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của Tăng Ni, Phật tử và bà con trong vùng đồng thời tạo nên cảnh quan tôn nghiêm góp phần tạo nên điểm du lịch hấp dẫn cuốn hút du khách trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;2. HOẠT ĐỘNG CỦA CHÙA VĨNH TRÀNG&lt;br /&gt;2.1. Tu học&lt;br /&gt;Như trên đã nói chùa theo hệ phái Bắc tông nên giờ tu học giống như các chùa Bắc tông khác. Ở đây cũng trì tụng Lăng Nghiêm vào buổi khuya, cúng ngọ, quả đường, công phu chiều cúng thí thực và Tịnh độ vào buổi tối. Buổi mỗi tối Phật tử đến tụng khá đông. Tăng chúng có nhiều vị học Trung cấp Phật học Tiền Giang, có vị đang là Tăng sinh học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Một số vị ở chùa làm công tác Phật sự và cho giáo hội.&lt;br /&gt;2.2. Văn hóa, giáo dục&lt;br /&gt;Phòng phát hành kinh sách cua chùa có nhiều kinh sách và văn hóa phẩm của Phật giáo như băng giảng, kinh nhạc, áo tràng, chuổi hạt, pháp khí… nhằm đáp ứng nhu cầu tu học cho Tăng Ni và Phật tử trong thành phố và các vùng lân cận. Vì nơi điểm tham quan du lịch của du khách trong nước và nước ngoài nên phòng phát hành kinh sách Phật giáo có rất nhiều sản phẩm phong phú.&lt;br /&gt;2.3. Hoằng pháp&lt;br /&gt;Nơi đây là điểm an cư kiết hạ cho hơn trăm chư Tăng thuộc tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang nên mỗi mùa an cư tỉnh hội có thỉnh nhiều vị giảng sư nổi tiếng trong tỉnh và trong nước về đây thuyết giảng cho chư Tăng và Phật tử. Nơi đây còn là nơi đặt văn phòng của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang nên mỗi ngày phải giải quyết rất nhiều Phật sự của tỉnh nhà. Bố tát đường dưới tôn tượng Bồ tát Di Lạc là nơi chư Tăng của tỉnh về đây để Bố tát trong hai ngày 14 tháng 30 hàng tháng. Hai giảng đường Huệ Đăng và Chánh Hậu là nơi tổ chức đại giới đàn của tỉnh hội dành cho chư Tăng trong và ngoài tỉnh.&lt;br /&gt;2.4. Kinh tế&lt;br /&gt;Vấn đề thu nhập của chùa dựa vào phần công đức của thập phương đến viếng chùa là chính. Bên cạnh đó còn có một số Phật tử là đệ tử của chùa có tín tâm đến lễ bái cúng dường. Phòng phát hành kinh sách cũng tạo nên thu nhập để lo hương khói trong chùa vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của mọi người. Bên cạnh đó quầy hàng lưu niệm cũng có tạo một phần thu nhập của chùa qua nhiều sản phẩm mang đậm bản sắc của miền quê Nam bộ giúp cho du khách vừa tham quan vừa có một món quà lưu niệm khi đến chốn này. Thật là tiếc nếu như trong các chương trình tham quan của miền Tây mà lại không ghé thăm chùa Vĩnh Tràng đó là một sự thiếu xót lớn. Đây là một nơi không thể thiếu trong chương trình du lịch về miền Tây sông nước.&lt;br /&gt;2.5. Tiếp khách du lịch, khách hành hương&lt;br /&gt;Giới thiệu về chùa có thầy Thích Đức Nhiên là tri khách của chùa tiếp đón khách và sẳn sàng trả lời những câu hỏi về lịch sử của chùa. Còn có một bản giới thiệu vắn tắt về lịch sử chùa để du khách tiện việc tham quan tìm hiểu. Sự tiếp đón cũng như phục vụ ở đây tốt, có quầy lưu niệm có bãi đậu xe trước chùa sau công viên Vĩnh Tràng. Trước chùa có Bồ Đề quán phục vụ các món chay cho khách thập hành hương.&lt;br /&gt;Mỗi khi có đoàn tham quan nào đến chùa, nếu có báo trước thì Thượng tọa trụ trì đích thân hướng dẫn tham quan và thuyết minh về lịch sử hình thành chùa hoặc cử người trong chúng để hướng dẫn cho du khách.&lt;br /&gt;Vấn đề an toàn của du khách được nâng cao hàng đầu vì có bảo vệ luôn luôn túc trực. Về hệ thống vệ sinh tương đối tốt, không có rác thải bừa bộn như những ngôi chùa du lịch khác.&lt;br /&gt;Hệ thống cây xanh ở đây nhiều và mát mẻ bên cạnh những hòn non bộ và những hồ nước nhỏ tạo nên sự dễ chịu cho du khách sau khi lễ Phật và tham quan xong có thể ngồi trên những ghế đá đặt trong khuôn viên của chùa và công viên Vĩnh Tràng để nghỉ ngơi sau những ngày mệt mỏi với công việc mưu sinh.&lt;br /&gt;3. ĐỀ XUẤT&lt;br /&gt;Chùa là một điểm du lịch hành hương, điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng với kiến trúc độc đáo nên cần có một website để giới thiệu về chùa và những hoạt động của chùa để mọi người được tìm hiểu và cần có email để tiện việc liên hệ. Cần tập huấn giáo dục cho những Tăng Ni và Phật tử tại chùa nắm rõ về lịch sử của chùa cũng như ý nghĩa của từng pho tượng và các chi tiết về hoa văn điêu khắc để giới thiệu đến khách du lịch hành hương mỗi khi đến chùa.&lt;br /&gt;Đây là điểm đến của rất nhiều đoàn khách nước ngoài nên cần có những Tăng Ni và Phật tử ở chùa biết tiếng Anh để giới thiệu với khách làm cho họ hiểu hơn về nét độc đáo của ngôi chùa.&lt;br /&gt;Chùa cần có một tờ gấp thiết kế đẹp nói về lịch sử của chùa bằng song ngữ Việt – Anh để du khách trong nước và nước ngoài có thể tham khảo. Bên cạnh đó cần có thêm một bộ bưu ảnh của chùa để quảng bá với du khách thập phương.&lt;br /&gt;KẾT LUẬN&lt;br /&gt;Với kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây, chùa Vĩnh Tràng đã tạo nên một ấn tượng khó phai trong lòng du khách. Không những độc đáo về kiến trúc mà còn tinh tế trong phong cách. Nơi đây còn lưu giữ những bộ tượng cổ đặc sắc do những nghệ nhân miền Nam tạo tác bên cạnh đó còn có rất nhiều bao lam được chạm trổ công phu mang đậm bản sắc Việt. Cùng với những công trình của các bậc tiền bối để lại bên cạnh những công trình hiện đại của chùa đã tạo nên một kiến trúc đa dạng, phong phú.&lt;br /&gt;Với sự có mặt của ngôi chùa nơi đây đã đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân cũng như với cảnh trí tôn nghiêm này đã tạo điều kiện cho người dân có nơi nghỉ ngơi thư giản sau một ngày làm việc mệt nhọc.&lt;br /&gt;Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 80km, Vĩnh Tràng được xem là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trúc đặc sắc của tỉnh Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua &lt;a name="p.11677.2"&gt;&lt;/a&gt;của những du khách trong nước cũng như nước ngoài khi có dịp đến tham quan thành phố Mỹ Tho. Hơn thế nữa Vĩnh Tràng còn là nơi nghiên cứu tìm hiểu của nhiều người khi đến tham quan ngôi chùa ấn tượng này.&lt;br /&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;br /&gt;1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Chùa Vĩnh Tràng, www.wikipedia.org.&lt;br /&gt;2. Bảo Thiên, Công viên Phật giữa lòng thành phố, www.giacngo.vn, 04/01/2010.&lt;br /&gt;3. Công Luận, Chùa Vĩnh Tràng khánh thành tượng Phật Di Lặc cao 20m, www.tiengiangtv.org, 24/01/2010.&lt;br /&gt;4. Huỳnh Diệu, Tiền Giang – khánh thành công trình tượng Phật Di Lặc và công viên Vĩnh Tràng, www.giacngo.vn, 26/01/2010.&lt;br /&gt;5. Lê Quang Huy, Đầu năm đi viếng chùa Vĩnh Tràng, www.phattuvietnam.net, 14/3/2009.&lt;br /&gt;6. Trần Kiều Quang, Nét đẹp chùa Vĩnh Tràng, www.baohaugiang.com, 24/9/2008.&lt;br /&gt;7. Sở văn hóa, thể thao và du lịch Tiền Giang, Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Vĩnh Tràng, www.blog.yume.vn.&lt;br /&gt;8. Vân Trường, Một thần đèn cứu cổng chùa Vĩnh Tràng, www.vietbao.vn, 13/4/2004.&lt;br /&gt;9. Vietbalo Tổng hợp, Chùa Vĩnh Tràng, www.vietbalo.vn.&lt;br /&gt;10. Vietbooks, Ngôi chùa tôn trí pho tượng Phật A Di Đà cao nhất, www.kyluc.vn, 2/8/2010.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy9mgtHO5I/AAAAAAAAE0s/10KkvorPQcs/s1600/2.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547517310325439378" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy9mgtHO5I/AAAAAAAAE0s/10KkvorPQcs/s400/2.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy9NETWCtI/AAAAAAAAE0k/iyHc-IQXtcA/s1600/4.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547516873204435666" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 291px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy9NETWCtI/AAAAAAAAE0k/iyHc-IQXtcA/s400/4.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy8yGW3H9I/AAAAAAAAE0c/X6EW3psE1i8/s1600/DSC00136.JPG"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547516409899589586" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy8yGW3H9I/AAAAAAAAE0c/X6EW3psE1i8/s400/DSC00136.JPG" border="0" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7xLyb1CI/AAAAAAAAE0U/20jGzzTl1Lw/s1600/DSC00457.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547515294665921570" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7xLyb1CI/AAAAAAAAE0U/20jGzzTl1Lw/s400/DSC00457.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7gmLatlI/AAAAAAAAE0M/t5MuMAlywfA/s1600/DSC00369.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547515009692251730" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 300px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7gmLatlI/AAAAAAAAE0M/t5MuMAlywfA/s400/DSC00369.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547514795325842386" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 300px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7UHme49I/AAAAAAAAE0E/z-KSHmpLwR4/s400/DSC00352.jpg" border="0" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt; &lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7GTzeeQI/AAAAAAAAEz8/PG5563JvqUg/s1600/DSC00384.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547514558083397890" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy7GTzeeQI/AAAAAAAAEz8/PG5563JvqUg/s400/DSC00384.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy68qRE5iI/AAAAAAAAEz0/6dSBZn0rzMY/s1600/IMG_0045.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547514392314439202" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 300px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy68qRE5iI/AAAAAAAAEz0/6dSBZn0rzMY/s400/IMG_0045.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6xRutiRI/AAAAAAAAEzs/90wFKln-akQ/s1600/IMG_0044.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547514196749289746" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6xRutiRI/AAAAAAAAEzs/90wFKln-akQ/s400/IMG_0044.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6iExdFgI/AAAAAAAAEzk/6NDXkC1rZx0/s1600/DSC00362.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547513935573095938" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6iExdFgI/AAAAAAAAEzk/6NDXkC1rZx0/s400/DSC00362.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6Y6JDVpI/AAAAAAAAEzc/b_m3VS6l240/s1600/DSC00327.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547513778100459154" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 300px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy6Y6JDVpI/AAAAAAAAEzc/b_m3VS6l240/s400/DSC00327.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt; Bài và ảnh: Pháp Như&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-7487026356192505796?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/7487026356192505796/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=7487026356192505796' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/7487026356192505796'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/7487026356192505796'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2010/12/vinh-trang-ngoi-chua-noi-tieng-mien-tay.html' title='Vĩnh Tràng - ngôi chùa nổi tiếng miền Tây Nam Bộ'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPzCybvMEKI/AAAAAAAAE00/Y3YoHalwloU/s72-c/DSC00128.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-4472413409371009922</id><published>2010-12-06T16:51:00.005+07:00</published><updated>2010-12-06T17:13:52.708+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Phật học'/><title type='text'>Triết lý hư vô về kiếp người, cuộc đời trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều</title><content type='html'>Pháp Như&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy2HOO1pOI/AAAAAAAAEzU/of52oxXyoSk/s1600/8121159181110%255B1%255D.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5547509076209280226" style="FLOAT: right; MARGIN: 0px 0px 10px 10px; WIDTH: 267px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy2HOO1pOI/AAAAAAAAEzU/of52oxXyoSk/s400/8121159181110%255B1%255D.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;DẪN NHẬP&lt;br /&gt;Việt Nam là một đất nước có nền văn học vô cùng phong phú và đa dạng. Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, khi thịnh vượng, lúc suy tàn, nhưng thời đại nào cũng có những nhà văn, nhà thơ uyên bác đã để lại cho đời nhiều tác phẩm hay. Nhiều người được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới như Nguyễn Trải, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Họ đã có những tác phẩm kiệt xuất vượt lên cả mọi thời đại. Những tác phẩm của họ để lại như những di sản tinh thần làm rạng danh dân tộc Việt Nam, với nội dung và giá trị mang tính nhân văn cũng như tính giáo dục cao. Những tác phẩm đó phản ánh hiện thực cuộc sống của một giai đoạn lịch sử nào đó mà các tác giả đã sống đã thao thức và trăn trở. Sự tiếp thu những giá trị văn hóa – xã hội cũng như lịch sử và tôn giáo trong xã hội Việt Nam đã được đưa vào các tác phẩm của các tác giả ấy một cách tài tình mà khi nhắc tới người đọc phải nghiêng mình nể phục.&lt;br /&gt;Trong thế kỷ XVIII cũng có một tác giả nỗi bật với tác phẩm được xem là một tuyệt tác của thi ca chữ Nôm đó là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Không giống như tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du khi viết nên Truyện Kiều phải lấy ý tưởng từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm khúc được dịch lại của Đặng Trần Côn mà Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là một tác phẩm rất Việt Nam không dựa vào đâu cả. Nó phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII với biết bao bất công và bế tắc. Sự bất công được thể hiện qua khát vọng tự do được yêu thương được sống như bao người phụ nữ và sự bế tắc được thể hiện qua ước muốn được thoát ra khỏi cái “lồng son” của cung cấm để sống với cảnh đời “cục mịch nhà quê” của người cung nữ mà không được. Tác giả đã thông qua lời của người cung nữ nói lên tâm trạng của mình với nỗi thương cảm cho thân phận và cuộc đời phải chịu nhiều đắng cay.&lt;br /&gt;Với những từ ngữ Hán Việt, những điển tích và điển cố xưa trong những tác phẩm xưa của Trung Quốc tác giả đã miêu tả cuộc sống của nàng cung nữ trong cung vua với những cảm xúc thăng trầm. Cùng với những tư tưởng của đạo Phật, đạo Lão và đạo Nho đã phác họa nên một tác phẩm mang đậm màu sắc hư vô trong thân phận kiếp người và cuộc đời. Chính vì vậy người viết đã chọn đề tài: “Triết lý hư vô về kiếp người, cuộc đời trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.” Đây là một tác phẩm được viết trong thời Lê-Trịnh nhưng vẫn mang màu sắc tôn giáo và chính từ đó đã nỗi bật lên triết lý hư vô về thân phận kiếp người cũng như về cuộc đời một cách tài tình.&lt;br /&gt;NỘI DUNG&lt;br /&gt;1. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ - TÁC PHẨM&lt;br /&gt;1.1. Tiểu sử Nguyễn Gia Thiều&lt;br /&gt;Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 22 tháng 3 năm 1741 (nhằm ngày 5 tháng 2 năm Tân Dậu), ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình vào cuối thời vua Lê chúa Trịnh.&lt;br /&gt;Cha ông là Nguyễn Gia Cư, một quan võ được phong tước Đạt Vũ Hầu và mẹ là Quỳnh Liên quận chúa. Ông gọi chúa Trịnh Cương là ông ngoại vì Quỳnh Liên quận chúa là con gái của chúa Trịnh Cương. Ông nội là Nguyễn Gia Châu, một võ quan nhưng thông kinh sử được phong tước công. Ông gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là anh em họ với chúa Trịnh Sâm. Vợ ông là con gái trưởng của quan Chưởng phủ sư Đại tư đồ Bùi Thế Đạt.&lt;br /&gt;Năm lên sáu tuổi, ông đã được vào học trong phủ chúa vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa. Năm 1759 khi mới 18 tuổi, ông giữ chức Hiệu úy, quản Trung mã tả đội. Sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự. Năm 1782, ông được thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hóa. Ông là một người tài năng đa dạng, có công với triều đình nên được chúa Trịnh tin dùng và phong tước Ôn Như Hầu.&lt;br /&gt;Trong thời gian làm tổng binh ở Hưng Hóa, dù có công và được khen thưởng nhưng ông vẫn thường bỏ về nhà riêng ở Hồ Tây để làm thơ và bàn luận về triết học với bạn bè. Có người nói rằng chúa Trịnh không còn tin dùng ông nữa nên đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hóa vì thế mà ông chán nản bỏ về nhà sống cuộc đời tài tử, làm thơ, uống rượu và cả tu hành với hiệu là Như Ý Thiền. Ông còn những biệt hiệu khác là Hy Tôn Tử, Tân Thi Viện Tử và Sưu Nhân.&lt;br /&gt;Ông là người có sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học, triết học và còn tinh thông âm nhạc. Sở trường âm nhạc của ông là các bài ca, bài tán và là tác giả của bản Sơn trung âm và Sở từ điệu. Ông còn tinh thông hội họa và vẽ rất đẹp. Bức tranh lớn của ông là Tống sơn đồ đã dâng vua xem và được vua khen thưởng. Ông am tường cả kiến trúc và trang trí nên được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích ở Bắc Ninh. Đáng tiếc là các công trình nghệ thuật của ông đến nay không còn được lưu lại.&lt;br /&gt;Sự nghiệp văn chương của ông cũng để lại nhiều tác phẩm có giá trị cao. Về thơ chữ Hán, ông có hai tập là Ôn Như thi tập khoảng một ngàn bài nhưng đến nay đã bị thất lạc. Về tác phẩm chữ Nôm, ngoài Cung oán ngâm khúc còn có Tây hồ thi tập và Tứ trai thi tập hiện chỉ còn vài bài chép trong tập Tạy ký của Lý Văn Phức như Cảnh trong vườn và Miếng tình.&lt;br /&gt;Nguyễn Gia Thiều có nhiều con, trong số đó bốn người con đầu giỏi văn chương, có một tác phẩm chung là Tứ trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai - tức Nguyễn Gia Thiều, Kỷ Trai - Nguyễn Gia Cơ, Hoà Trai - Nguyễn Gia Diễm và Thanh Trai - Nguyễn Gia Chu.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn1" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn1" name="_ftnref1"&gt;[1]&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh vào năm 1786, ông đã ở ẩn tại miền núi xứ Hưng Hóa. Đến năm 1789, khi Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh và lập ra triều Tây Sơn vua đã mời ông cộng tác với triều đình nhưng ông cáo bệnh từ chối. Ông trở về quê cũ và sống ở đấy cho đến ngày 22 tháng 6 năm 1798 (nhằm ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ) thì qua đời, hưởng dương 57 tuổi.&lt;br /&gt;Tên của ông được đặt cho một phố yên tĩnh, có nhiều biệt thự kiến trúc Pháp ở thủ đô Hà Nội, gần hồ Thiền Quang. Không những thế tên ông còn được đặt cho các tên trường và tên đường trong một vài tỉnh thành trên đất nước Việt Nam.&lt;br /&gt;1.2. Nội dung và ý nghĩa tác phẩm Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;Cung oán ngâm khúc là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát[2]. Đây là một bài ca ai oán cho thân phận của một người cung nữ tài sắc vẹn toàn, lúc đầu được vua ân sủng, yêu thương thắm thiết nhưng chẳng bao lâu lại bị bỏ rơi. Ông đã dùng ngòi bút của mình với lối văn độc thoại để giải bày tâm trạng đau đớn của người cung nữ khi bị nhà vua ruồng bỏ. Nàng ý thức rõ được phẩm chất và tài năng của mình nên lặng lẽ tố cáo cuộc sống xa hoa phe phởn của vua chúa đã biến người phụ nữ thành món đồ chơi để thỏa mãn dục vọng một cách vô đạo. Sống trong cung cấm với nỗi cô đơn, tù túng nàng muốn thoát ra ngoài để trở về với cuộc sống “cục mịch nhà quê” của ngày xưa nhưng nàng vẫn bị giam cầm với bao nỗi niềm chất chứa. Cuối cùng, nàng vẫn khát khao được sự ân sủng nhỏ nhoi của vua như ngày nào nhưng đó chỉ là một ước mơ đầy tuyệt vọng. Và nàng nhận ra cõi đời này chỉ là những phù du, hư vọng, không thật như vừa tỉnh một giấc mơ.&lt;br /&gt;Cung oán ngâm khúc được xem như một bản cáo trạng tố cáo chế độ phong kiến đã chà đạp con người thông qua là tiếng thét ai oán của một trang tố nữ tài sắc vẹn toàn và tình cảm trong sáng, cao quý mà bị ruồng bỏ. Hình ảnh cung nữ chính là nạn nhân của chế độ phong kiến mang đầy bản chất ích kỷ hẹp hòi đến vô đạo của vua chúa đã biến họ thành món đồ chơi để thỏa mãn thú tính rồi ném bỏ không thương tiếc vào quên lãng. Nguyễn Gia Thiều đã thấy được cảnh này khi lui tới trong phủ chúa nên cảm thương cho nỗi lòng của người cung nữ. Với tấm lòng nhân đạo ông đã dồn hết tâm huyết và văn tài của mình để viết nên một tác phẩm bất hủ, đau đớn đến xé lòng về cuộc đời nàng. Nhưng ý nghĩa của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn là “Nguyễn Gia Thiều đã mượn lời cung nữ để nói lên tâm sự bế tắc của mình, cũng là sự bế tắc của lớp nhà Nho thời đại ông, đầy chán chường và mệt mỏi.”[3]&lt;br /&gt;2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TRIẾT LÝ HƯ VÔ VỀ KIẾP NGƯỜI, CUỘC ĐỜI TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC&lt;br /&gt;Qua tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều bày tỏ tâm sự của một kẻ sĩ đã nhìn thấy bao tang thương, thăng trầm, biến đổi của cuộc sống mà chính ông là người đã sống trong những biến cố ấy. Sự bế tắc của một thời đại với những tấm bi kịch đến tê tái trên thân phận kiếp người thông qua lời của người cung nữ đã vẻ nên một bức tranh ảm đảm cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng dường như ông chỉ mượn tâm sự của người cung nữ để nói lên nỗi niềm u uất của ông và cũng là của bao nhiêu người khác phải chịu nhiều bất công dưới chế độ phong kiến. Đến khi nỗi u uất đến đỉnh điểm ông đã lãng quên tâm trạng của người cung nữ mà trực tiếp bộc lộ về suy nghĩ của mình về kiếp người, về cuộc đời với triết lý hư vô rải rác trong tác phẩm và vô cùng sắc xảo đến từng chi tiết cũng như câu chữ.&lt;br /&gt;Hư vô ở đây không phải Không cũng không phải Có. Ý thức, sự suy nghĩ thì bị giới hạn trong thế giới nhị nguyên :có và không. Nếu vượt có, không, lòng không dính mắc, sẽ trực nhận được Hư Vô. Chúng ta đã quá quen thuộc và trọn tin nơi ý thức, Hư vô không phải tư duy mà được, càng tư duy con người càng sai lầm và ý thức của con người không phải là một thứ dễ tin tưởng. Theo nhà Phật khi con người chưa giải thoát thì mọi tư duy của con người vẫn bị vô minh chi phối. Tất cả mọi khái niệm đều bị giới hạn và hư vô nếu có khái niệm thì cũng không chính xác. Càng lăn xăn suy nghĩ về khái niệm càng xa lìa Hư Vô, tánh Không, Phật tính, bản thể vũ trụ. Nói chung hư vô là không có gì tuyệt đối, không thật có cũng không thật không, là hư vọng, giả hợp thoát ra hẳn tư duy của con người và hư vô nó có những biểu hiện của nó. Và trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có mang những biểu hiện của hư vô.&lt;br /&gt;2.1. Quan niệm “Đời là bể khổ” trong Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;Với giọng văn gồm nhiều từ ngữ của nhà Phật, Nho, Lão, Ôn Như Hầu đã giải thích về nhân sinh, vũ trụ và cuộc đời. Ông cho rằng cuộc đời là bể khổ mê tân, con người từ khi có mặt ở cõi đời này đã là khổ:&lt;br /&gt;“Thảo nào khi mới chôn nhau,&lt;br /&gt;Đã mang tiếng khóc chào đời mà ra!” (câu 55 - 56)&lt;br /&gt;Đây là quan niệm “Sinh là khổ”, một trong Bát khổ của Khổ đế mà Đức Phật đã nói trong Tứ Đế. Khổ đế là chân lý đầu tiên trong Tứ Đế, nói lên sự thống khổ của chúng sinh và “Sinh là khổ” là điều đầu tiên mà Đức Phật đề cập đến. Khi mới sinh ra con người đã là khổ rồi và nỗi khổ đó được báo trước nên tiếng kêu đầu tiên lại là tiếng khóc. Tại sao không phải là tiếng cười mà là tiếng khóc vì tiếng khóc báo hiệu sự có mặt trên cõi đời này của con người sẽ chịu nhiều nỗi khổ mà sinh là nỗi khổ đầu tiên mà con người phải gánh chịu. Cùng quan điểm đó, Nguyễn Công Trứ cũng có câu:&lt;br /&gt;“Thoạt mở mắt thì đà khóc chóe,&lt;br /&gt;Trần có vui sao chẳng cười khì.”&lt;br /&gt;Thật vậy, cuộc đời có vui gì đâu mà cười, chính vì không vui nên mới phải khóc lúc sinh ra chứ. Trịnh Công Sơn trong nhạc phẩm Phôi pha cũng có đoạn: “Thôi về đi, đường trần đâu có gì”. Đúng vậy, đường trần không có gì cả chỉ là khổ thôi, mà Đức Phật cũng đã nói: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển” và con người chỉ là cánh bèo trôi nỗi dập dền trong bể khổ ấy:&lt;br /&gt;“Nghĩ thân phù thế mà đau,&lt;br /&gt;Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.” (câu 67 - 68)&lt;br /&gt;“Bể khổ: từ Hán Việt là khổ hải. Đức Phật ví sự khốn khổ của chúng sanh mênh mông vô cùng như biển”&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn4" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn4" name="_ftnref4"&gt;[4]&lt;/a&gt;. Bến mê: bởi chữ mê tân, nhà Phật nói: sự ngờ vực ở nơi tam giới và lục đạo thì gọi là mê tân, bến lạc đường phải nhờ thuyền Từ-bi của Phật mới đưa vào đến bến được. Con người không thể định hướng cho chính mình mà chịu sự tác động của những yếu tố khách quan khác. Ôn Như Hầu ví thân phận con người như là bọt bèo để mặt cho dòng nước cuốn đi vào bến bờ vô định. Nghĩ đến thân thể mà đau đớn xót xa khi phải mang thân người. Khổng Tử cũng nói: “Ta khổ vì ta có cái thân này”, nếu không còn thân này nữa thì ta có hết khổ chăng! Chưa hẳn thế, không biết khi không còn thân nữa thì ta có hết khổ không nhưng chỉ biết rằng khi có thân thì chắc chắn là có khổ. Đau đớn hơn cả là con người không thể làm được những gì mà mình muốn nên phải cứ dằn vặt trong biển khổ đau thương:&lt;br /&gt;“Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,&lt;br /&gt;Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh” (câu 71 - 72)&lt;br /&gt;Bào ảnh: là cái bọt cái bóng. Kinh Kim Cương nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ riệc như điện, ưng tác như thị quan.” Nghĩa là: Tất cả các pháp như giấc chiêm bao, như chuyện huyền ảo, như bọt nước, như bóng đèn, như giọt sương móc và cũng như ánh sáng chớp nhoáng. Ý nói những sự hiện hữu trên đời đều không được lâu bền, là giả tạm, là vô thường.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn5" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn5" name="_ftnref5"&gt;[5]&lt;/a&gt; Dù biết đời là tạm bợ, thân là giả dối không thật, đó là đứng trên phương diện pháp tướng của nhà Phật mà nói, nhưng cái mà con người đối diện với những đau khổ cay cực của cuộc đời là có thật. Cái đau khổ đó không những người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc muốn thoát ra mà cả Nguyễn Gia Thiều cũng muốn phá tan cái vòng bức bách ấy. Sự cay nghiệt của tạo hóa đã giết chết con người hồi nào không hay:&lt;br /&gt;“Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,&lt;br /&gt;Chết đuối người trên cạn mà chơi.” (câu 73 - 74)&lt;br /&gt;Trẻ tạo hóa: bởi chữ tạo hóa tiểu nhi, trẻ nhỏ tạo hóa, đây là lời nói bỡn gọi ông trời bằng trẻ con; nó xuất phát từ điển tích ông Đỗ Thẩm Ngôn đời Đường, khi đau nặng, bọn ông Tống Chi Vấn vào thăm, Đỗ Thẩm Ngôn nói rằng: “Ngao ngán thay trẻ tạo hóa làm ta nên khổ sở thế này…”&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn6" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn6" name="_ftnref6"&gt;[6]&lt;/a&gt; Chết đuối người trên cạn: bởi chữ Lục-trầm. Lục là trên cạn. Trầm là chìm đắm, Trang tử nói: “Không thèm đi chung với đường đời gọi là chết đắm trên cạn”. Ở đây có nghĩa là không hạp với tình đời.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn7" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn7" name="_ftnref7"&gt;[7]&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phải chăng, tạo hóa khéo sắp đặt cho những con người “tài hoa bạc mệnh” Ông Như Hầu đã cảm thương cho thân phận tài hoa mà phận bạc của người cung nữ. Ông cảm thương cho người cung nữ cũng chính là sự cảm thương mình vì Nguyễn Gia Thiều cũng là một người tài hoa nhưng số phận của ông cũng gặp phải sự cay nghiệt của tạo hóa. Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng ai oán không kém: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Đâu phải Nguyễn Du chỉ có thương cảm cho nàng Kiều mà còn thương cho chính Nguyễn Du nữa để “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa”. Ông cũng đau đớn chua chát cho thân phận con người đâu thua kém gì Nguyễn Gia Thiều khi sống trong chế độ phong kiến ở thế kỷ XVIII. Sự chà đạp con người của xã hội phong kiến cùng với sự khắc khe của tạo hóa đã làm cho con người tê tái cả cõi lòng.&lt;br /&gt;Đâu chỉ có “sanh là khổ” mà trong suốt cuộc đời từ lúc trẻ cho đến lúc tuổi già con người luôn đối diện với những bức bách, những nỗi sợ hãi về cuộc sống, đã bao lần lâm vào những cảnh sống dỡ, chết dỡ, đói nghèo hoành hành, tai nạn kinh khiếp:&lt;br /&gt;"Trắng răng đến thuở bạc đầu,&lt;br /&gt;Tử, sinh, kinh, cụ, làm nau mấy lần." (câu 59 - 60)&lt;br /&gt;Đường đời còn chồng chất nhiều nỗi đắng cay cùng với bệnh tật đã hành hạ thân xác lẫn tinh thân của con người. Sự thống khổ của bệnh tật đã cắt đứt tim gan, đốt ruột, cắt da con người hằng ngày hằng giờ trong đau đớn:&lt;br /&gt;“Bệnh trần đòi đoạn tâm can,&lt;br /&gt;Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.” (câu 63 - 64)&lt;br /&gt;Với hình ảnh “lửa” trong câu thơ này, Nguyễn Gia Thiều đã dựa vào tư tưởng của kinh Pháp Hoa để nói về nỗi khổ của chúng sanh bị thuê đốt trong nhà lửa của tam giới: “Tam giới bất an, do như hỏa trạch”. Ở đây, ông miêu tả sự bức bách của người cung nữ khi sống trong sự tù túng của cung cấm giống như bị thiêu đốt trong nhà lửa. Tuy nhiên sự bức bách thật sự trong tác phẩm này hàm ý nói lên nỗi khổ tâm của tác giả khi sống trong chế độ phong kiến đầy dãy những điều “chướng tay gai mắt”. Chính vì sự chán ngán đó đã làm cho con người thêm mệt mỏi. Khi mùi đời chỉ toàn là hương vị đắng cay thì còn có gì vui đâu để mà bám víu:&lt;br /&gt;“Mùi tục lụy dường kia cay đắng,&lt;br /&gt;Vui chi mà đeo đẳng trần duyên.” (câu 105 - 106)&lt;br /&gt;Sống trong cuộc đời với hàng nghìn cảnh va chạm của công việc, của các mối quan hệ với xã hội, gia đình, dòng tộc, hàng trăm lần bị sứt mẻ thân thể lẫn tâm lý đã làm tin gan con người se thắt lại. Có khi muốn chết cho mau nhưng nào được như vậy. Khổ sở nhất là trong cảnh sống không được mà chết không xong mà cứ phải chịu đựng những nỗi đau dày vò dằn xé:&lt;br /&gt;“Đòi những kẻ thiên ma bách chiếtHình thì còn bụng chết đòi mau !” (câu 53 - 54)&lt;br /&gt;Không chết được, vậy thì phải sống. Còn sống thì phải còn tất bật với cuộc mưu sinh. Trong cuộc mưu sinh đó con người phải toan tính và chạy theo cái vinh hoa phú quý có khi đánh mất mình hồi nào không hay. Thật ra có ai biết đủ để mà dừng lại. Chính vì sự ham muốn danh vọng mà con người đã rượt đuổi nó như một chiếc bóng. Nguyễn Gia Thiều đã phê phán hóa sự phú quý là “mồi phú quý”. Phú quý ở đây chỉ là miếng mồi dành để câu những con cá mà thôi. Con cá nào đớp được mồi tưởng đâu có được một bửa ăn no ai ngờ lại mắc phải cái lưỡi câu thì thật là khốn khổ. Còn vinh hoa thì ông lại gọi là “bả vinh hoa”. Bả ở đây là một thứ bỏ đi khi ai đó đã hưởng hết những phần tinh túy rồi. Cái mà người này bỏ người khác đi tìm thì đâu có giá trị gì nữa. Đã chán chê rồi cho nên mới bỏ và cái bỏ ấy chỉ còn là cái bả mà thôi. Vậy mà cái “bã vinh hoa” ấy biết bao nhiêu người tranh giành nhưng rốt cuộc chỉ là một trò lừa bịp của tạo hóa:&lt;br /&gt;“Mồi phú quý dữ làng xa mã&lt;br /&gt;Bả vinh hoa lừa gả công khanh.” (câu 81 - 82)&lt;br /&gt;Dẫu biết là trò lừa bịp của tạo hóa nhưng con người cứ mãi mê muội không nhận ra, cứ chạy đua theo nó đến nỗi “gót chân lấm bùn” (câu 70), “tóc rụng gần hết” mới nhận ra mình chẳng được gì. Kẻ mưu cầu được thì lại tham lam muốn hơn thế nữa, còn kẻ mưu cầu không được lại đau khổ khóc than. Đây chính là “cầu bất đắc khổ” mà Đức Phật đã nói trong Khổ Đế và được Nguyễn Gia Thiều áp dụng vào tác phẩm của mình.&lt;br /&gt;Tất cả nỗi khổ của người cung nữ cũng bắt nguồn từ chữ ái mà ra. Chính tình yêu đã làm cho người cung nữ bị ràng buột. Trong giáo lý Thập nhị Nhân duyên thì chi “ái” là một trong những chi khó đoạn nhất. Trong kinh Đoạn tận ái, Phật dạy: Nếu đoạn tận ái dục thì tất cả các chi khác cũng sẽ bị đoạn tận. Nếu đoạn tận các chi trong Thập nhị Nhân duyên con người sẽ được giải thoát. Giải thoát cũng có nghĩa là con người chấm dứt mọi khổ đau. Người cung nữ đã vướng phải lưới tình cho nên mới sinh ra những phiền não:&lt;br /&gt;“Ngẫm nhân sự cớ gì ra thế,&lt;br /&gt;Sợi xích thằng chi để vướng chân,&lt;br /&gt;Vắt tay nằm nghĩ cơ trần,&lt;br /&gt;Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa dương.” (câu 45 đến 48)&lt;br /&gt;Sợi xích thằng là sợi dây đỏ hay còn gọi là dây tơ hồng. Điển này xuất phát từ của tích của Vy Cố đời Đường ở Tống-đô, đêm đi chơi mát, gặp ông già ngồi xem sách ở dưới trăng, bên có cái đãy đựng tơ đỏ (xích thằng) hỏi ông đáp rằng: Quyển sổ này chép tên tuổi, đãy đựng sợi tơ đỏ để buộc duyên phận vợ chồng người. Những người đã ghi tên vào sổ này, dù người thù hoặc ở nước khác cũng vầy nên chồng vợ. Ông này không có tên, ông xem sách dưới trăng nên gọi Nguyệt lão có nghĩa là ông già dưới trăng, hoặc có khi gọi là “Trăng già" hàm ý là Nguyệt lão. Chính dây tơ hồng của Nguyệt lão đã cột chân của người cung nữ đã làm cho nàng vướng chân không thể thoát khỏi cái vòng lẫn quẩn đến nỗi nàng muốn cần đến giọt nước cành dương của Bồ tát Quan Thế Âm làm nguội lữa ái dục trong lòng nàng để nàng được thanh thản.&lt;br /&gt;Nước dương: bởi chữ Dương chi tịnh thủy, giọt nước nơi cành dương liễu. Sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: có vị tăng tên Phật Đồ Trừng người nước Thiên Trúc một hôm ông Thạch Lặc mời đến nhà chơi, vừa có đứa con đau bệnh nặng. Phật Đồ Trừng lấy cành dương liễu tẩm nước phép rảy cho đứa bé đau, liền lành khỏi. Phép ấy của Phật Quan Âm có bình ngọc cắm cành dương liễu trong bình có những giọt nước làm cho chúng sanh mát dịu như có phép mầu.&lt;br /&gt;Phải nói rằng nguyên nhân của người cung nữ cũng bắt nguồn từ chữ “ái” mà ra và chính nó đã làm nên biết bao nhiêu phiền muộn, bức bách. Triết lý hư vô trong Cung oán ngâm khúc khi cuộc đời là bể khổ đã in đậm trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều toát lên tư tưởng nhân đạo cảm thương cho thân phận con người qua lời oán than của người cung nữ. Ông tiếp thu khá rõ chân lý Khổ Đế của Đức Phật, tuy nhiên ông chưa tiếp thu ba chân lý khác là Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế nên màu sắc của tác phẩm mang một màu tối và tư tưởng của tác phẩm là sự yếm thế, không lối thoát.&lt;br /&gt;2.2. Quan điểm về duyên sinh, vô thường và vô vi trong Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;Chính vì ngán cái “tạo hóa” trớ trêu mà ông cho rằng muôn vật ở đời chỉ là hư vô, hư trụ, do duyên sinh, duyên khởi của vạn pháp mà tồn tại. Người viết tạm dùng hai từ “tạo hóa” để nói về một sự sắp đặt sẵn của mọi sự vật hiện tượng và luôn cả kiếp người. Con người tin có một đấng “bề trên” nào đó sắp đặt cuộc sống của con người và chi phối cả vũ trụ. Nguyễn Gia Thiều cũng tin như thế, nhưng ông còn am tường hơn khi đem giáo lý duyên khởi của đạo Phật để giải thích cho sự tồn tại của vạn pháp nói chung và của con người nói riêng. Con người đã tồn tại trên cõi đời này theo nhân duyên hòa hợp mà thành thì vũ trụ nơi mà con người hiện hữu cũng do nhân duyên mà sinh diệt. Nhưng dù con người có tồn tại trong vũ trụ này cũng chỉ là sự ê chề, bi thương vì bị luật vô thường chi phối. Sự sanh diệt của con người sớm muộn gì cũng bị tan hoại bởi luật vô thường. Còn mọi sự vật hiện tượng trên cõi đời này cũng chỉ là giả hợp không thật có:&lt;br /&gt;“Tiêu điều nhân sự đã xong,&lt;br /&gt;Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.” (câu 95 - 96)&lt;br /&gt;Như vậy, có gì đâu để đáng tự hào, để đáng vui trong kiếp sống phù sinh này chứ. Đó là sự bi đát nhất của vạn pháp mà con người cũng chỉ là một trong những hạt cát của sa mạc vạn pháp đó mà thôi cho nên phải chịu chung số phận sinh diệt, vô thường này. Tư tưởng này xuất phát từ Phật giáo và của Lão Trang mà Nguyễn Gia Thiều chỉ là người tiếp thu nó. Nguyễn Gia Thiều đã tiếp thu chân lý đầu tiên của đạo Phật là Khổ Đế, thuyết vô thường, thuyết duyên khởi để nâng cao nó thành tư tưởng của tác phẩm. Bên cạnh đó, ông còn tiếp thu triết lý vô vi trong Đạo Đức kinh của Lão Trang để nâng cao thành triết lý sống của mình.&lt;br /&gt;Triết lý vô thường của đạo Phật và thuyết vô vi của Lão Trang trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc đã vẽ cho cuộc đời một bức tranh tang thương của kiếp người chăng? Không phải thế, hai triết lý này mô tả một cách hiện thực bản chất của vạn pháp là duyên sinh duyên khởi. Có sinh ắt có diệt đó là chân lý hiển nhiên và con người phải biết chấp nhận nó để mà sống, để mà khỏi đau khổ thêm nữa.&lt;br /&gt;Trong câu 76, ông viết: “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương", vân cẩu: là mây chó, ý này được lấy trong thơ của Đỗ Phủ:&lt;br /&gt;“Thiên thượng phù vân như bạch y,&lt;br /&gt;Tu tư hốt biến vi thương cẩu.”&lt;br /&gt;(Trên trời đám mây nổi như cái áo trắng,&lt;br /&gt;Bỗng chốc hóa hình con chó xám.)&lt;br /&gt;Ý nói sự biến chuyển nhanh chóng của mây. Về sau đem ví sự thay-đổi trên đời. Tang thương: tang là cây dâu, nương trồng dâu, thương là bể khơi, bãi bể. Sách Liệt Tiên truyện chép: Bà Ma-cô tiên-nữ đã nói bà từng thấy một nơi kia đám nương trồng dâu đã ba lần hóa thành bể khơi, bãi bể. Ý nói sự thay đổi nơi trần thế nhiều lần. Tang thương hay còn gọi Tang-hải-Tang-thương- Bãi bể nương dâu- Bể dâu, đều là một nghĩa.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn8" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn8" name="_ftnref8"&gt;[8]&lt;/a&gt; Sự thay đổi biến thiên của một con người giống như nhìn một đám mây nỗi như áo trăng bỗng chốc lại hóa thành hình con chó. Biển xanh còn biến thành nương dâu thì thân người có xá gì. Theo Nguyễn Gia Thiều thời gian của một kiếp người thoáng mất qua cửa sổ: "Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi" (câu 353) còn Trịnh Công Sơn trong ca khúc Tình xa lại cho rằng: “Ôi tiếng buồn rơi đều nhìn lại mình đời đã xanh rêu”. Thật vậy cuộc sống con người thật ngắn ngủi nhưng con người đâu ý thức được đều đó. Chính không ý thức nên đã để thời gian trôi qua rất nhanh đến khi nhìn lại thì tóc trên đầu đã điểm bạc. Con người lúc nào cũng nghĩ rằng sự tồn tịa của một kiếp người là rất lâu nên nhạc sĩ Y Vân mới viết ca khúc Sáu mươi năm cuộc đời. Nhưng đối với đạo Phật thì kiếp sống của con người chỉ tồn tại trong từng hơi thở. Ở điểm này Nguyễn Gia Thiều thừa tự được tư tưởng của đạo Phật nhận biết thời gian như bóng câu qua cửa sổ rồi cuối cùng chẳng được gì ngoài nấm mồ cỏ mọc xanh rì:&lt;br /&gt;“Tuồng ảo hóa huyễn bày ra đấy,&lt;br /&gt;Kiếp phù sinh trông thấy mà đau&lt;br /&gt;Trăm năm còn có gì đâu?&lt;br /&gt;Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.” (câu 103 - 104)&lt;br /&gt;Vẫn biết cuộc đời là bể khổ, là bến mê, tất cả hạnh phúc trên đời chỉ là phù hoa ảo ảnh sẽ chìm đám vỡ tan như bọt bèo trong vũ trụ. Nguyễn Gia Thiều đã ví cuộc đời này là vỡ “tuồng” mà vỡ “tuồng” thì làm gì mà có thật cho nên nó mới là “tuồng ảo hóa”. Nếu cuộc đời này là vỡ tuồng thì con người là những diễn viên trong vỡ tuồng đó được sự sắp đặt của đạo diễn “tạo hóa” chứ không phải làm theo ý của mình. Đáng buồn nhất là con người giống như một con rối trong vỡ “tuồng ảo hóa” này bị người khác giật dây. Có vui hay có buồn gì đi chăng nữa cũng phải cố gắng đóng cho tròn vai diễn chứ không được quyền quyết định hay cải lại. Ngẫm nghĩ lại kiếp người mà thấy đau lòng khi nhìn lại trăm năm đi qua của một kiếp người cuối cùng chỉ là một nắm mộ bên nghĩa địa buồn mà thôi. Ý thơ này của Nguyễn Gia Thiều giống với tư tưởng của Nguyễn Du trong hai câu đầu của tác phẩm Truyện Kiều:&lt;br /&gt;“Trải qua một cuộc bể dâu,&lt;br /&gt;Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”&lt;br /&gt;Có sống qua gần hết một kiếp người thì cuối cùng nhìn lại chỉ là sự chán chường đau đớn. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã gặp Nguyễn Du cùng một quan điểm. Dù có sống đến trăm năm thì chỉ là trò bể dâu mà thôi. Nguyễn Gia Thiều đã miêu tả tâm trạng khổ sở cùng cực của người cung nữ khi bị dày vò trong cung cấm. Thông qua những hình dung từ: ảo, hư, tiêu điều, đau, tang thương cũng đủ nói lên tâm trạng quặn thắt của người cũng nữ trong chốn thâm cung.&lt;br /&gt;Nguyễn Gia Thiều còn xem cuộc đời này chỉ là giấc mộng: "Kìa thế tục như in giấc mộng" (câu 49). Những vần thơ trong Cung oán ngâm khúc được xem khoảng thời gian hưởng niềm vui thoáng đến rồi chợt đi giống như một giấc mộng. Những điển này được dựa vào tích của Tô Đông Pha, Trang Chu, Lý Công Tá (bài Ký Nam Kha Mộng). Ngay cả trong tình yêu cũng được ví như giấc “mộng xuân” ngắn ngủi mà một khi mất đi con người ta dù có ngàn vàng cũng không thể nào mau lại được:&lt;br /&gt;“Dẫu mà ai có nghìn vàng&lt;br /&gt;Đố ai mua lấy được một tràng mộng xuân” (câu 175 - 176)&lt;br /&gt;Cho đến khi đêm nằm ngủ trong chiêm bao thấy hồn mình thành bướm nhởn nhơ đó đây, nhưng khi tỉnh giấc thấy mình vẫn là con người nên lòng còn tiếc nuối ngẫn ngơ:&lt;br /&gt;“Khi bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ” (câu 218)&lt;br /&gt;Mọi sự vật sự việc, mọi hiện tượng ở đời cũng chỉ là một giấc mộng Nam Kha huyễn hóa và vô tình mà thôi:&lt;br /&gt;“Giấc Nam Kha khéo bất tình&lt;br /&gt;Bừng con mắt dậy thấy mình tay không" (câu 83 - 84)&lt;br /&gt;.“Giấc mộng Nam Kha”, có nguồn gốc từ cuốn tiểu thuyết “Tiểu sử Nam Kha Thái Thú” của tác giả Lý Công Tá đời Đường Trung Quốc thế kỷ 9 công nguyên. Kể về chuyện của Thuần Vu Phân, nhân ngày sinh nhật của ông, người thân và bạn bè đều đến chúc thọ, ông vui mừng quá, và uống nhiều chén rượu. Sau khi người thân và bạn bè về nhà, ông ngà ngà say hóng mát dưới cây hòe, bát giác ngủ quên.&lt;br /&gt;Trong giấc mơ, ông mơ thấy mình đi thi rồi đậu trạng nguyên và được vua gã công chúa cho ông. Sau đó không lâu ông được nhà vua cử đến quận Nam Kha làm thái thú. Ông cố gắng làm việc và quý mến nhân dân nên được nhân dân hết lòng khen ngợi. Ba mươi năm trôi qua, thành tích của ông đã nổi tiếng khắp toàn quốc, và ông đã có bảy con, năm trai hai gái, cuộc sống rất hạnh phúc. Nhà vua mấy lần muốn điều động ông về kinh thành đảm nhiệm chức vụ cao hơn, nhưng người dân không cho.&lt;br /&gt;Khi nước Thiên La đem quân xâm lược nước Đại Hòe, nước Đại Hòe bị thua trận nhiều lần. Các quan trong triều tiến cử Thuấn Vu Phân, thái thú quận Nam Kha có thành tích công tác xuất săc, bèn giới thiệu với nhà vua. Nhận mệnh lệnh của vua, ông dẫn quân xuất chinh nhưng vì không biết phép dùng binh nên quân của ông đã bị thua và xuýt nữa ông bị bắt. Được tin này, nhà vua hết sức thất vọng, ra lệnh truất bỏ mọi chức vụ của ông, giáng xuống làm bình dân, và đưa về quê. Thuấn Vu Phân nghĩ tên tuổi anh hùng của mình bị phá hủy hoàn toàn, hết sức xấu hổ và tức giận, kêu một tiếng thật to, ông tỉnh dậy từ giấc mơ. Ông theo cõi mộng đi tìm nước Đại Hoè, hóa ra dưới cây hòe có một lỗ con kiến và có những kiến đang cư trú ở đó. Nghĩ đến tích này mọi người gọi là “giấc mộng Nam Kha” hay còn gọi là “giấc hòe”.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn1" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn1" name="_ftnref1"&gt;[1]&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;“Giấc mộng Nam Kha” được con người ví như là một giấc mơ về vinh hoa phú quý, nó chỉ là huyễn hóa không thật, khi tỉnh giấc mơ thì hiện thực vẫn trở về. Ở đây người viết đưa ra quan điểm: “Giấc mơ là có thật nhưng những điều trong giấc mơ chỉ là hư ảo.” Thế mới hay trò đời dâu bể khéo sắp bày và cuộc đời chỉ là một giấc mộng vô thương, hư vọng.&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn1" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref1" name="_ftn1"&gt;[1]&lt;/a&gt; Câu chuyện Giấc mộng Nam Kha, http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter16/chapter160413.htm&lt;br /&gt;3. Quan điểm về tiền định, nghiệp báo, luân hồi&lt;br /&gt;Nguyễn Gia Thiều cho rằng đời là tạm bợ nên phải ung dung tự tại để sống nhiều khi còn muốn tu hành thoát tục. Những điều này được thể hiện trong thơ ông nhưng chưa đạt rốt ráo của sự giải thoát. Ông muốn thoát khỏi chế độ xã hội bất công đã khinh thường và áp bức con người đến mức nghẹt thở cũng như người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc đã muốn phá tan cung cấm giam hãm mình bấy lâu nay để trở về sống đời “cục mịch nhà quê” mà không được. Điều này cho thấy làm người thật khó, không phải muốn gì cũng được. Ấy phải chăng đó là sự sắp đặt của “tiền định” mà con người không thể can dự vào:&lt;br /&gt;“Vẻ chi ăn uống sự thường&lt;br /&gt;Cũng còn tiền định khá thương lọ là.” (câu 51 - 52)&lt;br /&gt;Theo Vũ Ngọc Khánh thì ý này lấy từ sách Mạnh Tử : “Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định” (một cái uống một cái ăn đều được định trước).&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn10" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn10" name="_ftnref10"&gt;[10]&lt;/a&gt; Những việc nhỏ như cái ăn cái uống mà còn được tạo hóa sắp đặt sẵn huống chi là những việc liên quan đến vận mệnh của con người. Con người không thể cưỡng lại nỗi mà đành cam chịu số phận khắc nghiệt do tạo hóa đã định trước.&lt;br /&gt;Đó là tâm trạng bế tắc của Nguyễn Gia Thiều hay là sự bế tắc của cả xã hội phong kiến thế kỷ XVIII. Xã hội bế tắc là do con người hay do “tiền định”? “Một câu hỏi lớn không có lời giải đáp, cho đến bây giờ mặt vẫn chau.” Chính nhà thơ Huy Cận trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương đã nói như thế. Mọi sự bế tắc của kiếp người in hằn trên thể xác lẫn tâm hồn của các vị La Hán. Chính cha ông ta đã đem những tâm sự u uẩn, bế tắc ấy vào trong những tác phẩm của mình. Các vị La Hán đã dứt hết các phiền não rồi nhưng không ngờ khi thấy cảnh đời cơ cực của chúng sanh mà “các vị đau theo lòng chúng nhân”. Nhìn thấy cảnh đời cay nghiệt mà chế độ phong kiến đem lại cho con người thì “tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng viết:&lt;br /&gt;“Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ,&lt;br /&gt;Văn chiêu hồn từng thắm giọt mưa rơi.”&lt;br /&gt;Theo ý của người viết nghĩa rằng “tiền định” còn hàm nghĩa là “nghiệp”. Đây là một quan điểm của đạo Phật. Do nhân của tiền kiếp của người cung nữ đã gieo cho nên ngày nay gánh quả báo là phải chịu tất cả những đau khổ. Do nghiệp của thân, khẩu, ý tạo tác mà ngày nay người cung nữ khó có thể mà thoát được dù có muốn thoát hay không. Chính cái nghiệp này đã trói buột cuộc sống của con người, nếu con người có vùng vẫy cũng không thể thoát nên đành phải chấp nhận nó mà thôi. Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói:&lt;br /&gt;“Đã mang lấy nghiệp vào thân,&lt;br /&gt;Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”&lt;br /&gt;Chính vì sự bế tắc không thể thoát ra khỏi cái nghiệp đã định sẵn mà Nguyễn Gia Thiều muốn tìm đến sự tu hành. Một mặt ông muốn tìm đến của Phật để mong dứt hẳn mối thất tình vây hãm con người:&lt;br /&gt;“Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật,&lt;br /&gt;Mối thất tình quyết dứt cho xong.” (câu 109 – 110)&lt;br /&gt;Thất tình: là bảy thứ tình của con người gồm: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục: mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét và ham muốn, là con người ai ai cũng có bảy thứ tình này đã làm cho con người đau khổ, trầm luân. Ông muốn tìm đến cửa Phật để “mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”. Hoa đàm: bởi chữ Ưu-đàm-hoa là một hoa thiêng-liêng của nhà Phật, ba nghìn năm mới có một lần nở hoa, mỗi khi có hoa tức có Phật ra đời.&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn11" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn11" name="_ftnref11"&gt;[11]&lt;/a&gt; Ông muốn mình như hoa đàm không vướng bận một chút ưu phiền nào. Đuốc tuệ: bởi chữ Tuệ hỏa, tiếng nhà Phật nói: ngọn lửa trí tuệ để đem chúng sinh ra khỏi nơi chướng ngại khổ sở. Ông muốn dùng đuốc tuệ để soi đường dẫn lối ông thoát khỏi sự bế tắc của cõi đời này. Nói cách khác là ông muốn tìm đến với đạo Phật để tu hành với tiêu chí “duy tuệ thị nghiệp” nghĩa là lấy trí tuệ làm sự nghiệp để mà giải thoát.&lt;br /&gt;Nguyễn Gia Thiều không chỉ tu theo Phật mà ông còn muốn tu theo đạo Lão nữa Ông muốn: “Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa” để quên đi những nỗi phiền muộn của cuộc đời. Ông muốn tiêu dao vui thú với thiên nhiên cho quên đi những tháng ngày u uất.&lt;br /&gt;“Thoát trần một gót thiên nhiên&lt;br /&gt;Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.”(câu 113 - 116)&lt;br /&gt;Ông muốn thoát khỏi cái thân uế trượt này siêu thăng như tiên để được tiêu dao không phải lo toan với những ưu tư phiền muộn. Nhưng không phải ai muốn đi tu là cũng tu được đâu? Ôn Như Hầu còn cảm thấy trên con người còn có một sức mạnh thần bí nào đó chi phối kiếp người mà con người tự mình không thể hiểu thấu trong hai câu thơ:&lt;br /&gt;“Cái quay búng sẵn trên trời&lt;br /&gt;Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.” (câu 91 - 92)&lt;br /&gt;Theo Vũ Ngọc Khánh chỉ có “ba chữ “cái quay búng” mà mỗi người hiểu một các khác nhau. Giáo sư Nguyễn Huy Bảo trong cuốn sách “Nhân bản Thiên Chúa Giáo” (trang 76 và 24) giảng “cái quay búng” trong Cung Oán Ngâm Khúc là Trời (viết chữ hoa). Giáo sư Tôn Thất Lương lại giảng “cái quay” là luân hồi của Đạo Phật”. Còn trong Chú giải Cung oán ngâm khúc thì cho biết: “Cái quay: bởi chữ Luân hồi, bánh xe quay, là cái máy quay của tạo hóa; nhà Phật nói: chúng-sinh ở trong thế giới, từ khi đầu tiên đến nay cứ bị quay xoay vần trong lục đạo hết kiếp này đến kiếp kia mãi, như cái bánh xe quay mãi không thôi. Chỉ có kẻ tu hành đắc đạo mới thoát khỏi luân-hồi ấy.”&lt;br /&gt;Chỉ có ba chữ thôi mà có nhiều cách hiểu khác nhau. Cũng theo Vũ Ngọc Khánh: “Nếu chỉ có ba chữ “cái quay búng” thôi, có thể hiểu là sự “may rủi”. Nếu thêm chữ “sẵn” thành “cái quay búng sẵn”, có thể là “tiền định”. Nếu lại thêm hai chữ “trên trời” cái tiền định này ở ngoài tầm con người không phải ở dưới trần nhưng ở trên trời. “Cái quay búng sẵn trên trời” chi phối ra sao? Trí người không ai thấu hiểu chỉ thấy “mờ mờ nhân ảnh”. Con người mò mẫm tìm ngược xuôi trong bóng tối “như người đi đêm” không biết đi về đâu. “Máy huyền vi mở đóng khôn lường”&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn12" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftn12" name="_ftnref12"&gt;[12]&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Người cung nữ muốn trở lại với cảnh đời được sủng ái như ngày xưa không được mà muốn thoát ra để trở về với cảnh đời “cục mịch nhà quê” cũng không xong. Đây chính là quan niệm sống của Nguyễn Gia Thiều muốn vứt bỏ đi tất cả nhưng lửa duyên lại chưa dứt được còn muốn tu hành nhưng nghiệp quả lại không cho. Chính vì vậy mà ông ngán ngẫm nên không mong muốn gì thế sự nữa:&amp;shy;&lt;br /&gt;“Đa mang chi kiếp đèo bồng,&lt;br /&gt;Vui gì thế sự mà mong nhân tình.” (câu 111 – 112)&lt;br /&gt;Đây không chỉ là tư tưởng của Nguyễn Gia Thiều mà là của một lớp người trí thức bấy giờ. Xã hội rối ren không còn kỷ cương, một tâm trạng bế tắc trước xã hội như thế con người ta muốn thoát khỏi nhưng không thể, để thấy xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII là một xã hội bế tắc khiến con người muốn vùng vẩy ra khỏi mà không được. Dù có thương cảm cho kiếp người hay có oán than cho xã hội thì Nguyễn Gia Thiều cũng giữ một tấm lòng trung với vua giống như người cung nữ oán trách vua khi bị ruồng bỏ nhưng khi ước ao trở lại cảnh ái ân với vua như ngày nào không được thì nàng vẫn phải giữ lòng trung trinh:&lt;br /&gt;“Phòng khi động đến cửu trùng&lt;br /&gt;Giữ sao cho được má hồng như xưa.” (câu 355 – 356)&lt;br /&gt;Đây là quan niệm về “chữ Trung” của Khổng Tử trong “Trung quân ái quốc” dù nhà vua có gì đi chăng nữa thì phận làm bầy tôi phải giữ lòng trung “Quân xử thần tử thành bất tử bất trung”. Nàng cung nữ dù có oán trách vua nhưng cuối cùng vẫn giữ một tấm lòng trung trinh ở đây nàng cung nữ đã nói thay cho Nguyễn Gia Thiều một nhà luôn đặt trên mình ba chữ “quân, sư, phụ” cho nên phải tận trung với vua. Nếu không trung với vua thì không là người yêu nước, chính vì vậy mà các nhà Nho rất xem trọng điều này. Hai câu thơ này la hai câu kết của tác phẩm hàm ý rằng dù xã hội có thế nào đi nữa thì con người cũng phải tôn trọng những giá trị lễ nghi của cuộc đời. Như nàng cung nữ dù có oán trách vua nhưng vẫn giữ một lòng trinh bạch cũng như Nguyễn Gia Thiều dù có bức xúc với xã hội đương thời những vẫn giữ lễ nghĩa của một người tri thức.&lt;br /&gt;3. Giá trị nghệ thuật của Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;Với thể thơ song thất lục bát đã làm cho nhạc điệu của bài thơ là một bản tình ca đầy âm sắc. Với vần trắc của câu thất thứ nhất đã tạo nên một cảm giác rất gay gắt cho người đọc và người nghe. Nhưng câu thất thứ hai với vần bằng đã tạo sự nhẹ nhàng trở lại. Cho đến hai câu lục bát với vần bằng đã tạo nên một cảm giác trầm lắng xuống. Đây là nét độc đáo của bài thơ khi đọc đến hai câu lục bát có sự chùng xuống giống như những nốt trầm của một bài ca buồn. Theo người viết cảm nhận một khổ thơ bốn câu song thất – lục bát trong bài thơ này ẩn chứ nhiều cung bậc của cảm xúc. Câu thất thứ nhất nói lên sự ai oán, nỗi khát khao đến cháy lòng, câu thất thứ hai dịu hơn một chút vì sự ai oán và nỗi khao khát đã nguội dần, cho đến hai câu lục bát thì chùng hẳn vì biết rằng có mong đợi có ước ao cũng chỉ là tuyệt vọng mà thôi. Vần điệu song thất lục bát được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, phép đối ngẫu được tôn trọng một cách chặt chẽ. Chính vì vậy mà Cung oán ngâm khúc từ khi phôi thai cho đến khi hình thành là dùng để ngâm nga chứ không phải để đọc.&lt;br /&gt;Cung oán ngâm khúc rất chặt chẽ về mặt cấu trúc cũng như sắc sảo về ngôn từ. Ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc hết sức tài hoa, chuẩn xác, dùng nhiều chữ Hán và điển tích, điển cố như: gió vàng hiu hắt, lạnh ngắt như đồng, thân phù thế, mùi tục luỵ, mồi phú quý, bả vinh hoa, cánh buồm bể hoạn, hoa chúm chím chào, cợt đào ghẹt mai, thánh thót cung đàn, nỉ non tiếng địch, gay gắt điệu, tê tái lòng, má đào chon chót, âm thầm chiếc bóng, hồn bướm vẩn vơ, dế ran ri rỉ, quyên kêu ra rả... Câu thơ trong Cung oán ngâm khúc được trau chuốt đến mức tuyệt hảo mà không có từ ngữ nào có thể thay thế được. Nó giống như một tác phẩm điêu khắc đòi hỏi sự tinh xảo và tỉ mỹ đến từng chi tiếc mà người nghệ nhân phải rất tài hòa mới thực hiện được.&lt;br /&gt;Những danh từ được dùng như: bể khổ, bến mê, nước dương, bào ảnh, thất tình, hoa đàm, đuốc tuệ, tiền nhân, hậu quả... đều là những điển trong các Kinh Phật như Kinh Kim Cương, Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Truyền Đăng Lục... bên cạnh những từ ngữ của Lão giáo như: gió mát trăng thanh, thoát trần, cái thân ngoại vật, tiên,… đã làm cho tác phẩm khá phong phú về nghệ thuật.&lt;br /&gt;Trong Cung oán ngân khúc, không gian chủ yếu là cảnh bưng bít của chốn tiêu phòng lạnh lẽo cùng thời gian chủ yếu là bóng đêm và mùa thu với sự hồi ức đã tạo nên một bức tranh vô cùng đen tối, ảm đạm, buồn bả. Thông qua những hình dung từ về xúc giác, thị giác được chọn lọc một cách chính xác làm cho người đọc có nhiều sự tưởng tượng khác nhau. Hơn thế nữa, tác phẩm còn gây ấn tượng cho người đọc bằng giọng văn réo rắt làm bật lên tâm trạng não nùng, ai oán của nhân vật trong khúc ngâm một cách tài tình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;KẾT LUẬN&lt;br /&gt;Cung oán ngâm khúc là khát vọng muốn đạp đổ tất cả những áp bức bất công của chế độ phong kiến của cung nữ biểu hiện tinh thần phản kháng, căm hận tột cùng của con người trước thực tại buồn đau để có được sự tự do hạnh phúc. Nàng cung nữ mong muốn có được tình yêu thương giống như bao người phụ nữ bình thường khác. Đó là một lý do chính đáng mà bất cứ một người phụ nữ nào cũng ước mơ. Nhưng đối với nàng là một điều không thể với tới. Cung oán ngâm khúc còn phê phán quan niệm “trọng nam kinh nữ” thông qua việc đa thê của vua quan phong kiến đã biến phụ nữ thành đồ chơi rồi ruồng không thương tiếc.&lt;br /&gt;Qua tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Ôn Như Hầu đã dùng lời than oán của người cung nữ để bày tỏ tâm sự của một kẻ sĩ đã nhìn thấy cuộc đời đầy tang thương biến đổi với những thăng trầm mà chính ông là người đã sống trong thời đại lịch sử ấy. Tâm sự của Nguyễn Gia Thiều là tấm bi kịch tiềm tàng những mâu thuẫn nghiệt ngã đến nối ông muốn thoát khỏi sự bức bách đó để sống một cuộc đời siêu phàm thoát tục. Tâm sự của ông cũng chính là tâm sự của bao người trong xã hội đương thời khát khao có được một cuộc sống bình yên. Nhưng xã hội lại bế tắc làm cho bao nhiêu người đau khổ đến nỗi nhân phẩm con người bị chà đạp đến đau lòng. Ước mơ được yêu được sống tự do được hạnh phúc là ước mơ chung của tất cả mọi người nhưng đối với người cung nữ điều đó thật xa vời. Ôn Như Hầu cảm thương cho thân phận người cung nữ cũng như là cảm thương cho thân phận của bao nhiêu người phụ nữ khác và cũng chính là thương cho thân phận mình. Đây là tư tưởng nhân đạo mà Nguyễn Gia Thiều đã gởi gấm qua tác phẩm.&lt;br /&gt;Với những quan niệm của Phật giáo, Lão Trang, Khổng Tử, Mạnh Tử đã làm cho tác phẩm đa dạng về tư tưởng làm nỗi bật lên triết lý hư vô dẫu biết cuộc đời là bể khổ, là bến mê, tất cả những hạnh phúc chỉ là phù du ảo ảnh nhưng vẫn hy vọng một ngày mai tươi sáng. Dù ước mơ không trở thành hiện thực thì con người vẫn phải sống và sống với những khát vọng của mình. Sống sao cho đúng nghĩa để không phải bị tiếng đời mai mĩa và không phải ân hận khi chết đi. Giống như nàng cung nữ dù có oán trách vua ruồng bỏ mình nhưng vẫn giữ một tấm lòng trung trinh không thay đổi dù có sống trong cảnh cô đơn nơi hoàng cung. Cũng vậy Nguyễn Gia Thiều cũng giữ một lòng trung thành với vua cho dù chế độ phong kiến có nhiều điều bất cập. Đây cũng chính là quan niệm sống của Nguyễn Gia Thiều và cũng là quan niệm sống của tầng lớp tri thức phong kiến lúc bấy giờ.&lt;br /&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;br /&gt;1. Nguyễn Đăng Thục, Triết lý xuất thế và nhập thế trong thi ca Việt Nam, www.newvietart.com.&lt;br /&gt;2. Trần Văn Thương, Chất dân gian trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, www.vanchuongviet.org&lt;br /&gt;3. Trần Mạnh Hảo, Cần trả lại giá trị đích thực cho kiệt tác “Cung oán ngâm khúc”, www.phiem-dam.com&lt;br /&gt;4. Nguyễn Trọng Trí, Đôi điều về Phật giáo trong văn học Việt Nam, www.phapluanonline.com&lt;br /&gt;5. Vũ Gia Khánh, Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung oán ngâm khúc,&lt;br /&gt;6. Vân Uyên, Quan niệm về trời trong Cung oán ngâm khúc, www.giaoxuvnparis.org&lt;br /&gt;7. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.vi.wikipedia.org&lt;br /&gt;8. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Cung oán ngâm khúc, www.vi.wikipedia.org&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn1" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref1" name="_ftn1"&gt;[1]&lt;/a&gt; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.wikipedia&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn2" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref2" name="_ftn2"&gt;[2]&lt;/a&gt; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.wikipedia&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn3" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref3" name="_ftn3"&gt;[3]&lt;/a&gt; Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn4" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref4" name="_ftn4"&gt;[4]&lt;/a&gt; Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn5" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref5" name="_ftn5"&gt;[5]&lt;/a&gt; Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn6" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref6" name="_ftn6"&gt;[6]&lt;/a&gt; Sđd&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn7" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref7" name="_ftn7"&gt;[7]&lt;/a&gt; Sđd&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn8" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref8" name="_ftn8"&gt;[8]&lt;/a&gt; Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn9" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref9" name="_ftn9"&gt;[9]&lt;/a&gt; Câu chuyện Giấc mộng Nam Kha, http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter16/chapter160413.htm&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn10" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref10" name="_ftn10"&gt;[10]&lt;/a&gt; Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn11" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref11" name="_ftn11"&gt;[11]&lt;/a&gt; Lược điển chép trong Pháp Hoa Kinh, chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a title="" style="mso-footnote-id: ftn12" href="http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=3033102751129275096#_ftnref12" name="_ftn12"&gt;[12]&lt;/a&gt; Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3033102751129275096-4472413409371009922?l=phapnhu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://phapnhu.blogspot.com/feeds/4472413409371009922/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=3033102751129275096&amp;postID=4472413409371009922' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/4472413409371009922'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3033102751129275096/posts/default/4472413409371009922'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://phapnhu.blogspot.com/2010/12/triet-ly-hu-vo-ve-kiep-nguoi-cuoc-oi.html' title='Triết lý hư vô về kiếp người, cuộc đời trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều'/><author><name>thichphapnhu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/07864299817520684268</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='24' height='32' src='http://2.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/SLBedDzXD7I/AAAAAAAACOc/GTkt9a_YF7w/S220/Copy%2520of%2520IMG_0088.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_I6WyQZGEjjU/TPy2HOO1pOI/AAAAAAAAEzU/of52oxXyoSk/s72-c/8121159181110%255B1%255D.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3033102751129275096.post-2423088660096536131</id><published>2010-11-23T18:26:00.001+07:00</published><updated>2010-11-23T18:30:03.373+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Triết học'/><title type='text'>Mùa Đông Còn Lại Gì</title><content type='html'>&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Lời Biên tập : mùa đông về thật rồi ư, cây cối trở nên hiu quạnh, đâu đó nỗi buồn man mác chợt hiện về. Biển cũng âm thầm cất lời sám hối, con dã tràng đang gọi một linh hồn vô thường nơi cát mộng. Để lại trong trong tôi những ý niệm nhớ thương. Mùa Đông năm ấy, tháng chín bầu trời bỗng sập tối, tha thiết tìm lại bóng dáng người xưa. Mọi người tưởng rằng, Đông là trong bốn mùa tuyệt vọng, dường như với tôi là khác, nó vẫn băn khoăn tiếp nối. Bất cứ tái sinh ở cảnh giới nào, đều là cảnh giới của sự sống, bất tuyệt mầu nhiệm. Còn lại một mùa đông mãi trong kí ức của tôi.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_LENYfA_qeaA/TNQeV1G_P3I/AAAAAAAADoY/_hOaaPNDhMk/s1600/images+(55).jpg" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; color: rgb(65, 102, 183); text-decoration: underline; font-family: Times, serif; font-size: 15px; line-height: 24px; "&gt;&lt;img src="http://1.bp.blogspot.com/_LENYfA_qeaA/TNQeV1G_P3I/AAAAAAAADoY/_hOaaPNDhMk/s400/images+(55).jpg" border="0" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5536083202327658354" style="margin-top: 0px; margin-right: auto; margin-bottom: 10px; margin-left: auto; padding-top: 5px; padding-right: 5px; padding-bottom: 5px; padding-left: 5px; background-image: initial; background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; background-color: rgb(153, 201, 255); border-top-width: 1px; border-right-width: 1px; border-bottom-width: 1px; border-left-width: 1px; border-top-style: solid; border-right-style: solid; border-bottom-style: solid; border-left-style: solid; border-top-color: rgb(255, 255, 255); border-right-color: rgb(255, 255, 255); border-bottom-color: rgb(255, 255, 255); border-left-color: rgb(255, 255, 255); display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 273px; height: 184px; background-position: initial initial; background-repeat: initial initial; " /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;…Sáng mở cửa, uống trà, nhìn mây và ngắm nắng từ vô tận. Những nhành cây lặng lẽ trong tiếng thời gian quá khứ. Mặt hồ tĩnh mặc như một bức họa vô tâm, trên mặt nước còn sót lại chiếc lá và đám rong mây của mùa thu qua. Con đường lạ lẫm mà chưa một lần bước đến nay đã trở thành huyền thoại. Nơi vô thỉ ấy, ta chỉ biết có lời kinh hóa ngọc, lời pháp tỉnh lòng mê và vô số điều uyên thâm đắc đạo của những bậc thượng thủ.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;“Ta đã trở về với chính ta,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Ta cùng chư Phật chung một nhà,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Ta đi phiêu bạt trong hoàn vũ,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Chẳng phải nơi nào chẳng phải ta”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Thơ.Đồng Nhãn.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Cái thấy mà không bám víu, cái biết hòa điệu như một cung bậc thăng trầm, đi nhưng không phải là đi, ở cũng chẳng xá gì chỉ nhắm mắt thiếp ngủ hai ba lúc rồi thức dậy. Chúng ta phải nhìn thấu được sự hiện hữu của “ Một nhà” là đến lúc ta biết an trú vào đối tượng quán chiếu, thân hành nơi thân hành, tâm trong tâm, ý xúc tác mà không chạm, miệng giữ yên không động thì có thể chúng ta cứ tiếp tục nhiếp phục tóm thâu mọi nắm bắt kia. Dường như mùa đông cũng thế, chúng cũng chịu buông bỏ cái lớp vỏ bên ngoài để vững an từ cái nội tại. Có đôi khi chúng còn thừa hưởng sự tụ khí và đón nhận cái chân lý ‘ Là Không’ bao trùm cõi nhân địa, sống trong tỉnh giác trở về với tâm:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;« Ta lại tìm ta chốn bụi hồng,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Cho hồn ta nhập với núi sông,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;ở đây nương tựa vầng mây khói,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;vạn nẻo luân hồi vạn nẻo không. »&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_LENYfA_qeaA/TMrpwH0xDAI/AAAAAAAADFs/b1kjS9ITzAU/s1600/images+(4).jpg" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; color: rgb(65, 102, 183); text-decoration: underline; font-family: Times, serif; font-size: 15px; line-height: 24px; "&gt;&lt;img src="http://2.bp.blogspot.com/_LENYfA_qeaA/TMrpwH0xDAI/AAAAAAAADFs/b1kjS9ITzAU/s400/images+(4).jpg" border="0" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5533492105121434626" style="margin-top: 0px; margin-right: auto; margin-bottom: 10px; margin-left: auto; padding-top: 5px; padding-right: 5px; padding-bottom: 5px; padding-left: 5px; background-image: initial; background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; background-color: rgb(153, 201, 255); border-top-width: 1px; border-right-width: 1px; border-bottom-width: 1px; border-left-width: 1px; border-top-style: solid; border-right-style: solid; border-bottom-style: solid; border-left-style: solid; border-top-color: rgb(255, 255, 255); border-right-color: rgb(255, 255, 255); border-bottom-color: rgb(255, 255, 255); border-left-color: rgb(255, 255, 255); display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 259px; height: 195px; background-position: initial initial; background-repeat: initial initial; " /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Như một chiếc bình cổ, qua sự biến đổi của hiện thể, chúng ta dễ dàng thấy vết nứt trên thân bình, trên vành miệng bình, chúng ta mãi mê lau chùi chiếc bình cho bóng loáng mà quên đi một tác động nhỏ đến từ bên ngoài, làm hoại dần sự trong sáng vốn có của nó. Từng tơ bụi có thể đọng lại mà ta không hề hay biết, nhưng chúng cũng có khả năng bảo tồn dính chặt vào khe hở của chiếc bình muôn tuổi. Do ta không biết đó thôi, Mùa Đông lắm lúc cũng là sự chuyển dần của một bước ngoặc mới trong ý thức, trong căn cơ và trong mỗi hơi thở bất diệt vô sanh. Ngày hôm qua chưa chắc là của ngày hôm qua, sáng nay cũng vậy, chúng tiềm tàng ở mọi thế giới khác nhau, xóa tan đi những đám mây hư vô và bước chân ta luôn có mặt với thực tại để sống và để một lần nữa hòa mình vào dòng chảy vô dư y niết bàn. Như một hành giả, gánh tọa cụ và nước lên núi để tìm hang động ẩn thất, đang trên đường đi tới thì bỗng cành cây khô vướng lại, choáng cả lối mòn lên núi, bằng mọi cách vị Thiền Sư ấy, quăng các thứ còn lại xuống và cởi chiếc áo ra móc vào thân cây gần đó, để làm dấu. Từ từ Vị ấy nhận ra rằng cái mà hồi nảy giờ ta lặn lội đi tìm kiếm là một cành cây khô đã mục nát lâu ngày chỉ còn sót lại nhăm ba nhánh bên đường, làm cản trở chuyến lên ẩn thất của tôi. Một trạng thái chân tục đế, hữu dư y niết bàn mà sở dĩ ta vội vàng được một nhà học giả gọi là “ Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niết bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chỗ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đấy tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa. Vì thế, những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì, chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào mà ý niệm về ta và của ta không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái một, cái thuần nhất bất tạp của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối, nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn, không còn có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời hiện đại này, nhiều người đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm mống thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay” và rồi sẽ “Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Người Thiền sư suốt đêm qua luôn gác tay suy tư về điều mà Ông chứng kiến buổi hôm qua, Ông cho rằng cái mà vừa sắp diễn ra là cái chưa một lần đến và cái sắp bắt đầu là cái không biết chắc xãy ra. Bởi vậy mùa đông giúp cho chúng ta biết thêm về sự tương quan tương duyên của cuộc sống, tưởng chừng ta đơn độc như vị Sư Thiền kia, một mình lên núi, một mình cởi áo và cũng một mình đoạn trừ các lậu hoặc trước khi chiếm tới đỉnh núi ẩn thất. chúng ta sẽ tìm ra sự phòng hộ giữa các chuyển mùa với nhau, đừng ích kỷ tách biệt cái này của ta và cái này không là của ta. Bị bám víu vào các cảm thọ xôm tụ, vui sướng, nóng lạnh thì ta đang mắc kẹt ở các pháp.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Có một thiền khách hỏi:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Sau khi mùa đông đi qua, để lại gì cho ta?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;Sư đáp:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;- Hãy nơi sinh tử mà nhận lấy.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px; line-height: 24px;"&gt;“Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chỗ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi đó vậ
