Xin hân hạnh giới thiệu đến vị quý 80 mã số nhạc chờ của Pháp Như trên Mobifone: 1 Ân cha mẹ như biển trời 50611055, 2 Ân cha mẹ như biển trời 5166917, 3 Bông hồng cài áo 50611062, 4 Bông hồng cài áo 5166918, 5 Bông hồng dâng cha 50611064, 6 Bông hồng dâng cha 5166919, 7 Bước chân Yên Tử 50611067, 8 Bước chân Yên Tử 5166920, 9 Chùa tôi 50611072, 10 Chùa tôi 5166921, 11 Còn thương rau đắng mọc sau hè 50611076, 12 Còn thương rau đắng mọc sau hè 5166922, 13 Đêm Pháp Hoa 50611080, 14 Đêm Pháp Hoa 5166923, 15 Diệu pháp 50611081, 16 Diệu pháp 5166924, 17 Diệu pháp âm 5166925, 18 Đời Tăng lữ 50611087, 19 Đời Tăng lữ 5166926, 20 Em đi trên cỏ non 50611089, 21 Em đi trên cỏ non 5166927, 22 Gánh hàng rong 50611092, 23 Gánh hàng rong 5166928, 24 Giấc mơ cánh cò 50611095, 25 Giấc mơ cánh cò 5166929, 26 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 50611097, 27 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 5166930, 28 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 50611098, 29 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 5166931, 30 Làng tôi 50611129, 31 Làng tôi 5166932, 32 Lạy Phật Quan Âm 50611128, 33 Lạy Phật Quân Âm 5166933, 34 Lời sám nguyện 50611126, 35 Lời sám nguyện 5166934, 36 Lời tạm biệt của người tìm đạo 50611124, 37 Lời tạm biệt của người tìm đạo 5166935, 38 Lòng mẹ 50611123, 39 Lòng mẹ 5166936, 40 Lục cúng dường 50611121, 41 Lục cúng dường 5166937, 42 Mẹ là Phật 50611119, 43 Mẹ là Phật 5166938, 44 Mẹ là vầng trăng 50611118, 45 Mẹ là vầng trăng 5166939, 46 Mẹ tôi 50611114, 47 Mẹ tôi 5166940, 48 Mẹ Từ Bi 50611110, 49 Mẹ Từ Bi 5166941, 50 Mùa duyên 50611107, 51 Mùa duyên 5166942, 52 Ngọn lửa tuổi hai 50611105, 53 Ngọn lửa tuổi hai 5166943, 54 Ống thổi lửa 50611103, 55 Ống thổi lửa 5166944, 56 Phật Hoàng Trần Nhân Tôn 50611100, 57 Phật là ánh từ quang 50611096, 58 Phật về 50611093, 59 Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật 50611091, 60 Tạ ơn mẹ 50611090, 61 Tâm xuân 50611084, 62 Tâm xuân 5166945, 63 Thì thầm với nắng 50611083, 64 Thì thầm với nắng 5166946, 65 Thiền sư Chùa Đậu 50611078, 66 Thiền sư Chùa Đậu 5166947, 67 Thờ kính mẹ cha 50611075, 68 Thờ kinh mẹ cha 5166948, 69 Tiếp bước dấu chân xưa 50611073, 70 Tiếp bước dấu chân xưa 5166949, 71 Trăng tròn tháng tư 50611071, 72 Trăng tròn tháng tư 5166950, 73 Trở lại Bạc Liêu 50611070, 74 Trở lại Bạc Liêu 5166951, 75 Vì có Phật 50611069, 76 Ví có Phật 5166952, 77 Vu Lan nhớ mẹ 50611066, 78 Vu Lan nhớ mẹ 5166953, 79 Xuân trong cửa thiền 50611063, 80 Xuân trong cửa thiền 5166954, * Để chọn bài hát làm nhạc chờ trên mạng Mobifone:Soạn tin nhắn theo nội dung như sau: 1. Đăng ký sử dụng, soạn tin: DK gởi 92242. Cài đặt bài hát- Cài đặt bài hát: CHON masobaihat gởi 9224 Ví dụ: để tải bài Đời Tăng lữ bạn chỉ cần soạn: CHON 50611087 gởi 9224 - Gửi tặng: TANG mabaihat sodienthoainhan gởi 9224 Ví dụ: để tặng bài Đời Tăng lữ cho bạn bè bạn chỉ cần soạn: TANG 50611087 số điện thoại người nhận gởi 9224 Để biết thêm chi tiết xin vui lòng truy cập: http://www.mobifone.com.vn

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Sự hình thành và phát triển Thiền phái Trúc Lâm

DẪN NHẬP
Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.

Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới vì"Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Tuy nhiên Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.

Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình."[1] Phải nói rằng sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm là niềm tự hào lớn của dân tộc. Nó thể hiện bản sắc, cũng như tín tự chủ, tinh thần không chịu lệ thuộc bởi ngoại lai. Cũng chính sự ra đời của thiền phái này trong lúc đất nước bị quân Nguyên – Mông xâm lược đã tạo nên sức mạnh của toàn dân. Từ vua quan đều là Phật tử cho đến những người dân đều đồng lòng ra sức dẹp giặc để bảo vệ cho đất nước.

Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khẳng định: “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn giáo xuất thế”. Khác với các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường,Tthiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt mang đậm tinh thần nhập thế, điều đó cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sanh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền phái đã mang những đặc điểm ấy. Vì vậy mà người viết đã chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm”. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không thể không hiểu rõ về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một của báu của dân tộc càng phải được tìm hiểu và phát huy.

Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.

NỘI DUNG
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI NHÀ LÝ ĐẦU NHÀ TRẦN
Đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý bắt đầu suy yếu. Các nhà vua khi lên ngôi còn quá non trẻ, lớn lên ham chơi, bỏ bê việc triều chính. Vua Cao Tông mãi mê xây cung điện, nghe đàn hát. Vua Duệ Tông thì nhu nhượt, lại mắt bệnh cuồng. Trong triều các gian thần, nịnh thần lộng hành nhiễu loạn. Ngoài xã hội, nhiều năm mất mùa, đói kém triền miên. Nạn hổn chiến giữa các phe phái phong kiến càng trở nên sâu sắc.

Trong triều đình bấy giờ, họ Trần ngày càng chiếm ưu thế, anh em con cháu họ Trần lần lược nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều. Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ. Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý. Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô. Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ.

Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính.

Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng "không có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự ngày một đổ nát". Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi.

Năm 1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh. Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần.

Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân. Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo. Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi. Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị.

Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa.

Nhà Trần (陳朝) trải qua 13 đời vua bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng là 175 năm. Những vị vua và tôn thất nhà Trần mến mộ Phật giáo, nghiên cứu tu tập và có sự chứng đắc, điển hình là vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên – Mông (1285 và 1287) đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông, về làm Thái thượng hoàng và tu hành trên núi Yên Tử rồi sáng lập thiền phái Trúc Lâm.

2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
2.1. Nguyên nhân ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Việc nhà Trần thay ngôi nhà Lý là vâng theo mệnh trời, vì vua Trần Thái Tông là người nhân từ, trí đức song toàn có thể lãnh đạo nhân dân giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong nước, cũng như đối phó với các thế lực ngoại bang xâm lấn và tập trung xây dựng và phát triển đất nước. Ngoài việc thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ ý chí đến hành động của toàn dân và xây dựng đất thịnh vượng, vua Trần Thái Tông còn đạt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần.
thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (竹林安子) phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông nhưng người khai sáng và làm rạng danh thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là đệ nhất Tổ. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi.

Nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, về mặt văn hóa, việc xây dựng một ý thức hệ độc lập thống nhất vô cùng cấp bách. Phải thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài, thống nhất ý thức dân tộc về mặt chính trị, làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương (họ Trần) và làm phương tiện giải quyết các mâu thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo quần chúng nhân dân nhằm duy trì một trật tự xã hội và cũng tức là duy trì ngai vàng của dòng họ.

Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các Thiền phái trước đây để đáp ứng các yêu cầu của đất nước. Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc tự mình độc lập không lệ thuộc Thiền tông ở Trung Quốc, vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tông với các tín ngưỡng khác, do đó thu hút các tín ngưỡng khác. Bên cạnh đó thiền phái này cũng tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới - tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng.

Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa. Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.

2.2. Trần Nhân Tông – Vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳昑) là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng Hoàng 15 năm. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Trần Nhân Tông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần Thị Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (1258). Ngài có duyên với Phật pháp từ thuở nhỏ, khi sinh ra, thân sắc vàng như sắc Phật, lớn lên năm 16 tuổi, được vua cha lập làm Hoàng thái tử, Ngài hai lần cố xin nhường lại cho em là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không cho, vì thấy Ngài có khả năng gánh vác việc lớn. Trong khi đó, lịch sử lại biết bao trang sử đau lòng, chỉ vì ngôi vị mà cốt nhục tương tàn. Hạt giống Phật đã ngầm chứa sẵn trong Ngài mà biểu lộ ra như thế. Ngày 22 tháng 10 âm lịch năm 1278, được vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông ở ngôi 15 năm, nhường ngôi 5 năm, Vợ vua là Khâm Từ hoàng hậu (?-13/9/1293), (bà là con gái Trần Hưng Đạo), Tuyên Từ hoàng hậu (?-19/8/1318). Con trai là Trần Thuyên (17/9/1276-16/3/1320), con của Bảo Thánh hoàng hậu, (sau là vua Trần Anh Tông) và Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn (29/1/1281-3/1328); con gái là công chúa Huyền Trân.

Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí, Nhân Tông lại là một vị vua thông minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng cả, nên từ năm 1285 đến 1287, Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt nhưng bị đập tan.

Ngoài ra, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.

Các niên hiệu trong thời gian vua Trần Nhân Tông trị vì là Thiệu Bảo, Trùng Hưng.

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành. Một lần ông tắm gội ở Ngự Dội lên ngồi dưới gốc tùng tư duy thiền định, bừng sáng trí tuệ. Sau đó thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Nhân Tông đã cùng hai môn đệ là Pháp Loa và Huyền Quang vân du thuyết pháp ở chùa Sùng Nghiêm, Siêu Loại. Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này. Trần Nhân Tông giã từ hoàng cung vào núi Yên Tử, Phật tử nước ta thời đó đã tôn xưng Trần Nhân Tông là Phật Biến Chiếu Tôn. Nhưng điều đáng nói Sơ tổ là “hiện thân của Phật Đại Việt với nhiều đường nét riêng biệt, phong cách riêng biệt, khác với tông phái Thiền tông khác. Nó không phải là chi nhánh Phật giáo từ bên ngoài vào, nó bắt nguồn tại chỗ, tức từ một vị Phật đầu thai, thuyết pháp, giáo hóa cứu vớt chúng sinh”[2]
Ông qua đời ngày 3 tháng 11 âm lịch năm 1308, ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, xuất gia 8 năm, thọ 50 tuổi. Sau khi viên tịch, xá lợi của Sơ tổ thờ ở tháp Huệ Quang, được tổ chức bằng một nghi lễ trang trọng với số lượng tín đồ rất đông, vừa đi vừa đọc kinh thể hiện niềm tin của Phật tử đối với vị giáo chủ.

2.3. Tôn chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Bằng sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, Trần Nhân Tông dùng ánh sáng chân thật đó, dung hợp ba dòng thiền đã có trước đó thành dòng Thiền Trúc Lâm, mở ra phong trào học Phật mới. Lấy tôn chỉ của thiền tông: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” làm chủ đạo, ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những lời kinh chết trong sách vở thành những bài kinh sống nơi người, chứng minh cho “Tâm Thiền” sáng ngời không có gì sai khác.

Xét kỹ, tông chỉ Thiền tông rất thực tế và gần gũi với con người, lấy “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tự sống vươn lên. Vì tâm mình mà không biết, vậy lo biết cái gì ở đâu xa? Thành Phật là thành ngay trong tâm tánh mình đây thôi, không phải thành ở trên núi cao, trên cõi trời xa xôi, chỉ cần mình xoay lại chính mình, thì ngay đó là bờ mé (Hồi đầu thị ngạn). Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng người, nâng cao giá trị con người, cũng là lý bình đẳng với tất cả, vậy sao không khai thác?

Tôn chỉ của Sơ Tổ thể hiện rất rõ trong bốn câu kệ cuối của bài phú Cư trần lạc đạo: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc san hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no mệt ngũ liền, Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.). Đoạn kệ trên nói lên tinh thần nhập thế tùy duyên mà hành đạo trong bốn quan điểm: 1. Hãy nên sống hòa mình với đời không chấp trước, mọi sự ở đời đều có nhân duyên của nó và hãy tùy duyên mà sống vui với đạo. 2. Hành động tùy duyên tức là làm việc cần phải làm, đúng lúc, đúng thời không trái với quy luật tự nhiên. 3. Tự tin nơi chính khả năng của của mình mà không tìm cầu một sự trợ lực nào từ bên ngoài. 4. Khi tâm đã sáng tỏ thì không còn nô lệ vào những điều trong giáo lý và cũng không lệ thuộc kinh điển.

Đúng là thiền tông chỉ thẳng “Ngay trong đây, lúc này, người này thôi”, rất hiện thực không có gì xa xôi, mập mờ hẹn lại kiếp nào khác. Nghĩa là mình sống trong giờ phút hiện tại qua từng cử chỉ hành động, từ những việc cỏn con cho đến những việc lớn đều sống trong chánh niệm tỉnh giác như vậy là thiền. Sơ Tổ khuyến cáo người tu hành tùy duyên nhập thế để làm lợi ích cho đời, vì chúng sanh còn nhiều đau khổ, nhiều người chưa biết Phật pháp, chưa biết trong nhà của mình có báu vật mà không biết khai thác. Trên tinh thần dù có sống giữa thế gian này nhưng vẫn vui với niềm vui của đạo, Sơ Tổ đã vân du khắp đó đây đễ giảng dạy Phật pháp. Tinh thần nhập thế này đã được những người nối truyền dòng phái cũng áp dụng làm cho Phật pháp lúc bấy giờ được hưng long như một quốc giáo của Đại Việt. Bản thân Trần Nhân Tông sau khi xuất gia và hóa đạo mà vẫn lo việc nước việc dân trong giai đoạn vua Trần Anh Tông trị vì. Bằng chứng sự kiện gả Công chúa Huyền Trân và sát nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý vào cương thổ Đại Việt đều có sự chỉ đạo của Tổ Trúc Lâm. [3] Cho thấy tinh thần nhập thế của Phật giáo đời Trần thể hiện qua sự hành đạo của các vị tổ Trúc Lâm là “Phật pháp bất ly thế gian pháp”.

2.4. Sự truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
1. Đối với thiền phái Trúc Lâm, thì Trúc Lâm Điều Ngự- Trần Nhân Tông là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ Thiền sư Hiện Quang là Tổ ban đầu. Sư là người khai sơn chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên như ngày nay). Vốn là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu, dòng Vô Ngôn Thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả.
2. Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Sư Trúc Lâm, người đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236.
3. Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô Thăng Long và là thầy của vua Trần Thánh Tông.
4. Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại Sư Phúc Đường, vì sư ở Tinh xá Phúc Đường mà Thượng sĩ Tuệ Trung có bài thơ tựa “Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền Sư”.
5. Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang cho là sư vốn làm Hoà thượng Đường đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.
6. Trúc Lâm Đại Đầu đà-Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử, Ngài thuộc hàng thứ sáu, nhưng là người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ Tổ.
Theo sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục (大南禪苑傳燈錄), của Hòa thượng Phúc Điền (福田), hệ thống truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được tiếp nối qua các vị sau:
7. Tổ sư Pháp Loa.
8. Tổ sư Huyền Quang.
9. Quốc sư An Tâm (安心);
10. Quốc sư Phù Vân Tĩnh Lự (浮雲靜慮)
11. Quốc sư Vô Trước (無著)
12. Quốc sư Quốc Nhất (國一);
13. Tổ sư Viên Minh. (圓明);
14. Tổ sư Đạo Huệ. (道惠);
15. Tổ sư Viên Ngộ. (圓遇);
16. Quốc sư Tổng Trì. (總持);
17. Quốc sư Khuê Thám. (珪琛);
18. Quốc sư Sơn Đằng (山燈);
19. Đại sư Hương Sơn (香山);
20. Quốc sư Trí Dung (智容);
21. Tổ sư Tuệ Quang (慧 光);
22. Tổ sư Chân Trú. (真住);
23. Đại sư Vô Phiền (無煩).
Danh sách này được Thiền sư Tuệ Nhãn lược dẫn trong phần đầu của bia ký tháp Giao Quang thờ Thiền sư Tính Đường hiệu Tuệ Cự ngay bên phải cổng chùa Lân-Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử: “Núi Yên Tử Sơ Tổ Hiện Quang đến Trúc Lâm Viên Chứng trải qua tới Trần Triều Tam Tổ, lần lượt tiếp nối nhau, danh chép truyền đăng phần nhiều khó nêu ra hết. Trong lý ẩn hiện đến Tổ Sư Tuệ Quang trung hưng rộng lớn, Phật pháp thịnh hành, danh lam thắng cảnh, Tuệ Nguyệt sáng mãi, Tuệ Đăng chiếu khắp cho đến Tuệ Cự…”[4]

Trong đây ghi rõ Thiền sư Hiện Quang là Sở Tổ của Yên Tử, Quốc sư Trúc Lâm hiệu Viên Chứng rõ ràng, Tổ sư Tuệ Quang trung hưng Yên Tử, Thiền sư Tuệ Nguyệt thầy của Thiền sư Chân Nguyên tiếp sáng luôn và Thiền sư Tuệ Đăng tức Ngài Chân Nguyên hiện còn tháp đá tôn thờ ở sau nhà tổ của Thiền viện đã làm cho dòng Thiền chiếu khắp.

Cứ theo danh sách này, sau Tổ Sư Huyền Quang có tới tám vị Quốc Sư, thì biết rằng dòng Thiền Trúc Lâm, ngoài Tam Tổ Huyền Quang, theo bia tháp Viên Thông thờ Tổ sư Pháp Loa ở Thanh Mai, phần cuối có kể ra hai vị tiếp nối đời thứ ba là Tông Huyền và Kim Sơn, nguyên văn:”Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự Pháp Trụ Trì Tông Huyền, Kim Sơn tấu tuyên”.

Tuy nhiên danh sách tên tuổi là phần biểu hiện bên ngoài, chính “tâm Thiền “ là mạch sống thật. Dù ẩn, dù hiện, dù thăng, dù trầm, hễ có người tỏ sáng được tâm Thiền, là còn tiếp nối được mạch sống Tổ Tông.

Thiền phái Trúc Lâm được một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sơ tổ Trúc Lâm truyền thừa cho Pháp Loa là đệ nhị tổ, đến Huyền Quang đệ tam tổ, sau đó hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh-Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải [5].

Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ 17-18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Đăng.

3. HỆ THỐNG GIÁO LÝ
3.1. Chủ trương của Thiền phái
Chúng ta nên ghi nhớ hai tác phẩm trọng yếu đã mở đầu cho phái Thiền Trúc Lâm này của các vị tiền bối trước Ngài Trần Nhân Tông. Đó là bản Ngữ lục của Tuệ Trung Thượng Sỹ và Khóa hư lục của Trần Thái Tông. Hai tác phẩm này, một đằng có thể khảo sát trên khía cạnh lý thuyết, và một đằng có thể được chiêm nghiệm trên phương diện thực hành, là những bản tổng kết của một thời gian dài phát triển tư tưởng của Phật giáo Việt Nam.

Thượng Sỹ Ngữ lục, một cách nào đó, có thể không mấy có tính chất sáng tạo về mặt tư tưởng Thiền, nhưng quả thực nó là sự kết tinh của Thiền học của các tông phái Đại thừa khác tại Việt Nam. Nhờ vào hệ thống công án, Thượng Sỹ Ngữ lục đã có thể phát biểu kiến giải của mình một cách thông dong về tất cả các chủ điểm ách yếu trong các khuynh hướng dị biệt của Phật học. Sau Thượng Sỹ ngữ lục, công án vẫn còn được tiếp tục với tinh thần tương tợ, như chúng ta có thể thấy trong Tam tổ đã tạo ra cho công án một vóc dáng lớn, bao hàm cả tư tưởng Tam giáo, không riêng gì Thiền hay Phật giáo.

Đến thời Trần Nhân Tông, “Ngài lại chủ trương xây dựng hệ thống giáo lý Thiền - Giáo song hành” [6] để tính nhập thế được vận dụng tích cực trong đời sống đạo nhằm tạo ra một đời sống hạnh phúc cho dân chúng. Chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm là đào tạo ra những mẫu người dân Phật tử kế thừa tông phong được giáo dục toàn diện mới đáp ứng nhu cầu lịch sử đặt ra. Đó là xây dựng và phát triển Đại Việt trở nên hùng cường thì Phật giáo mới hưng thịnh. Khi đất nước chưa có hệ thống giáo dục đào tạo theo trường lớp, thì nhà chùa trở thành nhà trường, nơi đó dạy đủ các môn học mà con người cần học.

Một người Phật tử không chỉ thông thạo kinh điển nhà Phật mà còn phải học những môn khác nữa mới đủ tri thức vận dụng thực tiễn các nhu cầu con người đặt ra. Bên cạnh đó còn sử dụng Nho giáo như là một công cụ phục vụ lợi ích quốc gia và Phật giáo.

Trần Nhân Nhân Tông dặn dò Đệ Nhị tổ mở rộng việc học bên trong và bên ngoài Phật giáo là nhằm thực hiện xã hội hóa giáo dục, nâng cao trình độ dân trí sau này. Tôn ý của Sơ tổ muốn Pháp Loa đủ kiến thức nội và ngoại điển để đào tạo ra những người thừa kế Thiền phái đủ sức gánh vác các Phật sự khác nhau của đạo cũng như đời. Nếu không, thì Phật giáo chỉ biết đào tạo cho xã hội những con người chuyên tu hành và làm các công việc khác xung quanh khuôn viên nhà chùa mà không tham gia hoạt động gì cả cho xã hội.

Với chủ trương như thế, tháng 12, năm 1038, Pháp Loa kêu gọi tăng chúng và cư sĩ trích máu in Đại tạng kinh hơn 5.000 bản. Riêng bản thân Pháp Loa cũng nghiên cứu và sáng tác nhiều bản kinh thuộc hệ thống kinh điển Đại thừa như: Tham Thiền kỷ yếu, Kim Cương trùng Đà la ni kinh khoa chú, Niết Bàn đại kinh khoa sớ, Pháp Hoa kinh khoa sớ, Lăng Già tứ quyển khoa sớ, Bát Nhã tâm kinh khoa sớ, Hưng vương hộ quốc nghi quỹ, Pháp sự khoa văn và Độ môn trợ thành tập. Hẳn nhiên, Pháp Loa cũng là nhân vật được giới Phật giáo và các thành phần khác trong xã hội mời thuyết giảng kinh Hoa Nghiêm. Mà tư tưởng của Cư Trần lạc đạo cũng ảnh hưởng tinh thần nhập thế từ kinh Hoa Nghiêm. Kết quả, Thiền phái ra đời và thể nhập vào đời sống sinh hoạt chung cả dân tộc. Từ đây, Thiền phái này có một sự liên hệ chặt chẽ mọi thành phần trong xã hội, tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân, với hào khí Đông A hào hùng trong lịch sử của dân tộc.

3.2. Tín đồ - Nghi lễ truyền thừa
Chưa bao giờ trong lịch sử Phật giáo, số lượng tín đồ Phật tử trở thành thành viên Thiền phái Trúc Lâm đông đảo như vậy. Sở dĩ như vậy, là do Trần Nhân Tông sáng suốt trong việc tổ chức bộ máy giáo hội. Sau đó giao trọng trách cho Pháp Loa là người lãnh đạo Giáo hội trẻ nhất trong lịch sử Phật giáo làm Đệ Nhị tổ lãnh đạo Tăng già vào năm 1307. Sau khi lãnh đạo Tăng già, tháng 9, năm Quý Sửu (1313), “Thiền sư Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, đặt văn phòng Trung ương Giáo hội tại đó, quy định mọi chức vụ Tăng sĩ trong Giáo hội, kiểm tra tự viện và làm sổ Tăng tịch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Tăng sĩ có hồ sơ tại Giáo hội Trung ương”[7] . Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì do số lượng Tăng Ni đông quá, cứ mỗi lần tổ chức thọ giới thì phải thải ra hàng nghìn người; tuy vậy, “tính đến năm 1329, số Tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do Giáo hội Nhất Tông (Trúc Lâm) tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị”. Con số hàng nghìn người được quy y, thọ Bồ tát giới tại gia hay xuất gia rất đông. Pháp Loa là người chủ trương phát triển Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm có tổ chức hệ thống quy củ đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Số lượng xuất gia này là đã có sự hạn chế, ba năm mới tổ chức giới đàn một lần, mỗi giới đàn chỉ giới hạn 3.000 Tăng Ni. Những vị đệ tử xuất sắc của Pháp Loa là Tuệ Nhiên, Tuệ Chúc, Hải Ấn, Hoằng Tế, Huyền Giác, Quế Đường, Cảnh Ngung… Các nghi lễ truyền thọ Tỳ kheo, Bồ tát, Tam quy Ngũ giới cho các vị Hoàng tộc, Phật tử tại gia được tổ chức thường xuyên. Các buổi khóa niệm cầu an, cầu siêu chẩn tế cũng được tổ chức, gọi là “Diệm khẩu thí pháp hội”, có nghĩa là đại hội Phật pháp để bố thí cho loài quỷ đói. Pháp này bày ra để thực hiện giáo nghĩa từ bi, lợi lạc quần sinh. Năm 1320, Pháp Loa tổ chức trai đàn chẩn tế ở chùa Phổ Minh trong cung để cầu cho Thượng hoàng Anh Tông sống trường thọ. Việc biên soạn khoa nghi Du già, Phật giáo pháp sự đạo tràng công cách thức ấn hành vào năm 1299 là nhằm mục đích thu hút tín đồ tham gia học đạo. Các cuộc đại tham về thiền thường xuyên được tổ chức theo một nghi thức trang trọng. Mở đầu là phần niệm hương, kế đó là thiền sư đăng tòa, có lời sách tấn và sau đó trả lời các câu hỏi của các thiền sinh. Việc xây chùa, đúc tượng phục vụ cho việc hoằng pháp qua các Phật sự như nghi lễ thiền giáo, thuyết pháp được chú trọng. Có thể nói từ khi tổ chức Giáo hội Nhất Tông này chính thức đi vào hoạt động trở về sau thì Phật giáo Việt Nam bấy giờ đã trở thành lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại nhà Trần thiết lập một nền độc lập hòa bình cho cả dân tộc.

Sau đời Trần, Phật giáo Việt Nam tiếp tục song hành cùng dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay tiếp tục thừa kế truyền thống và phát huy sức mạnh nội tại “thống nhất lãnh đạo và tổ chức, thống nhất ý chí và hành động” để cùng dân tộc Việt Nam xây dựng một đời sống hạnh phúc an lành và thịnh vượng.

4. SỰ NGHIỆP PHẬT GIÁO CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Thiền phái Trúc Lâm ra đời đã mang một màu sắc mới, một thiền phái được kết hợp từ ba dòng thiền trước đây của Trung Hoa nhưng mang đậm bản sắc của Đại Việt. Sự nhập thế của các thiền sư nhà Trần khi đất nước bị quân Nguyên – Mông ba lần đánh chiếm vẫn đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. Nhưng khi đất nước thái bình thì họ vẫn trở về với bản chất thiền sư ngày xưa, tiếp tục tu hành và nghiên cứu để đưa sự hiểu biết của mình chỉ dạy cho nhân dân. Đây là tinh thần nhập thế mà các thiền phái trước chưa thực hiện được. Chính vì tinh thần nhập thế này đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt và cũng là thời đại phát triển Phật giáo đạt tới đỉnh cao của Việt Nam từ xưa đến nay. Sự nghiệp Phật giáo của thiền phái Trúc Lâm có những đóng góp rất lớn trên hai điểm lớn: Lý tưởng và thực tế.

4.1. Về phương diện lý tưởng
Thiền phái Trúc Lâm quả tình đã kết hợp khéo léo giữa lý tưởng Quốc gia và Phật đạo mà sáo ngữ ngày nay thường nói Phật giáo và Dân tộc. Đây không chỉ cách nói tuyên truyền nhất thời với một hậu ý chính trị nào đó. Lý tưởng Quốc gia và Phật đạo đã có mặt trước cả đời nhà Trần, như chúng ta chứng kiến trong các cuộc vận động cho quyền tự chủ và ý thức dân tộc của các Thiền sư trước thời Lý. Cho đến đời nhà Trần, lý tưởng này đã được khẳng định nhiều lần do chính miệng của những người sáng lập triều đại nhà Trần.

Nếu xét kỹ, có lẽ chúng ta phải thấy rằng lý tưởng Quốc gia và Phật đạo vốn là khía cạnh của lý tưởng tôn giáo đại đồng. Đó là một nền tín ngưỡng lấy niềm tin nơi con người làm đối tượng cứu cánh, không giới hạn vào biên giới quốc gia. Tư tưởng Tam giáo đồng qui thực sự cũng được hỗ trợ bởi một lý tưởng tôn giáo như thế.

4.2. Về phương diện thực tế
Điểm này phải kể trước nhất là các nhà khai sáng Trúc Lâm đã tạo cho Phật giáo Việt Nam kể từ đây trở đi mang nhiều sắc thái thế tục hơn. Một phần, vì những nhà lãnh đạo tinh thần thời đó là cư sĩ. Họ vừa có thẩm quyền về đạo cũng như về đời, nên ảnh hưởng về thái độ thể hiện giáo lý của Phật thực tế không phải là nhỏ. Phật giáo thế tục, tức Phật giáo bận tâm nhiều đến các công tác thế tục hơn. Thí dụ, chăm sóc đến đời sống của dân chúng, không những về mặt tinh thần, mà còn đặc biệt ở các phương tiện vật chất.

Trên đây chỉ là tóm tắt sự nghiệp tinh thần của Trúc lâm đối với Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra, những sự nghiệp khác, như đối với sự tiến bộ của văn học, nghệ thuật, vân vân…..chỉ là những thành quả đương nhiên. Và cũng vì giới hạn của tập Tiểu luận này chỉ nằm trong vòng sự nghiệp tư tưởng, mà những khảo cứu của chúng tôi đã có thể chấm dứt được ở đây.

5. THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trên dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam có cả sự ảnh hưởng, tiếp nhận từ phương nam và phương bắc, có cả các bậc sư tổ người nước ngoài và người Việt, có cả sự trầm tích, cộng sinh và phát triển trên cơ sở văn hoá truyền thống bản địa.

Đặt trong tương quan giữa Phật giáo và văn hoá dân tộc, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc biệt. Trước hết cần đánh giá cao vai trò hoàng đế - thiền sư - thi sĩ Trần Nhân Tông (1258-1308). Đương thời, chắc chắn ông biết rõ các thiền phái ngoại nhập nổi tiếng nhiều đời như Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhưng lại hướng về tu tập, soạn sách Phật học theo một lối riêng và mở ra dòng Thiền Trúc Lâm in đậm dấu ấn Việt giữa nơi non cao Yên Tử. Đóng góp của ông mở rộng từ việc tuyên truyền đạo Phật giữa chúng sinh đến giảng giải kinh sách cho đệ tử, qua thơ văn đi sâu biện giải mối quan hệ giữa "hữu" và "vô", "thân" và "tâm", đề cao bản ngã chủ thể "nghiệp lặng", "an nhàn thể tính", "tự tại thân tâm", "Sống giữa cõi trần, hãy tuỳ duyên mà vui với đạo", đồng thời coi trọng cuộc sống thực tại, cảnh tỉnh lối tu hành cực đoan, cố chấp: Ai trói buộc chi, tìm giải thoát - Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên (Mạn hứng ở sơn phòng)...

Nối tiếp Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương, 1284-1330) Qua hơn hai mươi năm lãnh đạo, Pháp Loa đã cho sang khắc bộ Đại Tạng kinh với hơn 5.000 quyển, xây dựng hàng trăm ngôi chùa như Báo Ân, Quỳnh Lâm, Thanh Mai và trực tiếp giảng dạy giáo lý, có tới ba nghìn đệ tử đến cầu pháp và đắc pháp. Ông để lại các tác phẩm khuyên người xuất gia chăm lo việc tu đạo, khuyên mọi người hiểu sâu con đường tu thiền chân chính bằng việc học giới luật, thiền định và trí tuệ, chỉ rõ cách học cần sáng tỏ...

Người cuối cùng trong số ba vị tổ Trúc Lâm là Huyền Quang (Lý Đạo Tái, 1254-1334), hơn Pháp Loa tròn ba mươi tuổi nhưng lại tu hành muộn hơn, từng làm quan trong triều đình rồi mới từ chức đi tu. Huyền Quang để lại hơn hai mươi bài thơ chữ Hán, một bài phú vịnh chùa Vân Yên bằng chữ Nôm và câu chuyện liên quan đến Điểm Bích đượm chất thế sự.

Với sự hiện diện của ba vị sư tổ Trần Nhân Tông - Pháp Loa - Huyền Quang và khoảng hơn ba mươi năm hưng thịnh, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã trở thành một biểu tượng giá trị tinh thần người Việt. Trên phương diện văn hoá vật thể, dấu tích những ngôi chùa, tháp, am, đường tùng, trúc, suối Giải Oan, vườn Ngự Dược, tượng đá An Kỳ Sinh, chùa Đồng trên đỉnh núi hợp thành một quần thể sống động giữa nơi non cao rừng thẳm. Chỉ nói riêng cái tên Trúc Lâm Yên Tử cũng đã khơi gợi được vẻ cổ kính và chiều sâu thế giới tâm linh mỗi người dân nước Việt, nơi tu hành giảng đạo của người xưa và điểm du lịch, tham quan danh thắng của người hiện đại.

Một điều quan trọng khác nữa, chính tác phẩm của ba vị sư tổ cũng trở thành những giá trị tinh thần dân tộc, vừa là di sản tư tưởng nhân văn của ông cha vừa là những áng thơ còn mãi với thời gian. Nhiều chuyên ngành khoa học xã hội như lịch sử tư tưởng, triết học, văn học, văn hoá học, tôn giáo, ngôn ngữ... đều có thể tìm đến khai thác các văn bản này.

Điều quan trọng hơn, sự ra đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân nước Việt về khả năng phát triển những giá trị văn hoá bản địa, nội sinh trong lòng dân tộc. Đây cũng chính là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng của mỗi cộng đồng người ở từng thời đại, giai đoạn lịch sử cụ thể.

Có thể nói sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã tạo nên trường lực hấp dẫn mạnh mẽ, tạo đà thúc đẩy sự ra đời hàng trăm ngôi chùa lớn, nhiều tầng lớp tăng chúng cùng quy hướng theo một dòng tu hành in đậm sắc thái Phật giáo dân tộc. Bản thân hình tượng ba vị sư tổ cũng được tôn thờ, nghệ thuật hoá thành tranh, tượng và nhân vật trong văn học viết cũng như truyền thuyết dân gian.

Những bài thuyết pháp, giảng đạo của các ngài đồng thời cũng là những bài học đạo đức khuyên răn con người hướng thiện đã đến với muôn dân, đã được khắc in và truyền lại cho hậu thế.
Mặc dù đến hết triều Trần, Phật giáo không còn giữ được địa vị như giai đoạn trước, song tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã kịp chuyển hoá, thấm sâu trong đời sống tinh thần dân chúng và trở thành những giá trị văn hoá bền vững trước thời gian.

Nếu văn hoá là những gì còn lại trước thời gian thì chính các giá trị vật thể và phi vật thể liên quan Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã là một minh chứng sâu sắc cho khả năng tồn tại và phát triển của một di sản văn hoá, bất chấp năm tháng và mọi thăng trầm thế sự. Theo một nghĩa rộng, di sản này đã toả sáng thành "tâm thức Trúc Lâm" trong lòng mỗi con người thuộc mọi thế hệ, ở khắp mọi vùng đất nước.

KẾT LUẬN
Trúc Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông, một con người quá nổi bật ở nhiều mặt, một nhân cách quá sáng ngời: Nói về mặt lãnh đạo, là một nhà lãnh đạo tài ba; về chính trị là một nhà chính trị xuất chúng; về văn hoá là nhà văn hoá lớn; về tôn giáo, là nhà tôn giáo tuyệt vời…Do đó, để nhận định về Ngài, chúng ta khó có thể nhận định toàn vẹn được, nếu đứng trên một chủ kiến, một khía cạnh. Và hơn thế nữa, Ngài lại là hành giả trong pháp xuất thế, một bậc Tổ sư của nhà thiền thì càng không thể lấy theo ý thức tư duy bình thường mà hiểu được Ngài, phải là người trong cuộc với nhau mới hiểu thấu được nhau, như kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ Phật mới biết”.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được gắn liền với tên tuổi của Ngài, với dòng Thiền do Ngài mở lối, là một đại nhân duyên không phải tầm thường cần được tôn trọng và phải tôn trọng. Phật giáo nói chung, còn đường Thiền nói riêng, là con đường luôn sáng tạo, phù hợp với tinh thần phát triển ở các thời đại. Trúc Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông là bậc tôn kính đối với tất cả con cháu chúng ta, và tinh thần của Ngài còn được phát huy đúng mức, nhắc nhở cho con em chúng ta và con cháu mai sau phải luôn nhớ cội nguồn, phải biết trân quý, giữ gìn gia sản quí báu của tổ tiên, chính đó là nền tảng xây dựng đất nước vững bền. Ngài đã dung hợp các dòng thiền thành một thiền phái Trúc Lâm. Với tinh thần căn bản của Thiền tông là: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức chỉ thẳng ngay tâm người, ai nhận được bản tánh thì đủ cái nhân thành Phật. Vậy thành Phật là ở ngay trong tự tánh, không ở nơi nước này hay nước nọ, hoặc nơi người sứ này hay sứ kia. Hơn nữa, đã chỉ thẳng tâm người, thì ai không có tâm? Đã có tâm tức có thiền, nếu chúng ta sáng được tâm tức đạt yếu chỉ thiền, đâu phải tự khinh mình? Đó là đem lại niềm tự tin cho dân tộc. Thiền dạy phải tự tin chính mình là gốc, thì ở đây thiền phái Trúc Lâm đã ứng dụng điều đó vào thực tế.

Do đó, dung hợp các dòng thiền thành một dòng thiền Việt Nam, trong ý nghĩa thầm kín sâu xa, là một nhát đánh động lòng tin của dân tộc, đồng trừ đi niệm phân biệt đây kia. Không phái này chỉ trích phái nọ, chỉ ngộ bản tâm là chính. Không tông môn này đối chọi tông môn kia, chỉ sáng tâm là trên. Quả thật, chính đây là một nét chấm phá làm nổi bật nền Phật Giáo Việt Nam và đó là ngọn đèn sáng cho những thế hệ sau này cần soi sáng. Đối với lịch sử và văn hóa Phật giáo thì thiền phái Trúc Lâm vẫn để lại dấu ấn thiêng liêng trên dãy núi Yên Tử mà ngàn đời sau con cháu người Việt dù có phải là tín đồ của Phật giáo hay không thì cũng luôn hướng về nơi đó, nơi có một vị vua của dân tộc Việt đã để lại những giá trị quý giá mà không phải đất nước nào cũng có được.

TÀI LIÊU THAM KHẢO
1. HT. Thích Thanh Từ – Trúc Lâm Tam Tổ giảng giải. 1997.
2. Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
3. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 2001
4. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.
5. Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức 1960.
6. Lê Mạnh Thát –Toàn Tập Trần Nhân Tông – Nxb TPHCM - 2000.
7. Ngô Sĩ Liên – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 1985
8. Thích Phước Đạt, Từ Giáo hội Phật giáo Nhất Tông đời Trần đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay.

[1] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, trang. 428
[2] Thích Phước Đạt, Giáo hội Phật giáo Nhất Tông đời Trần, tr. 1

[3] Thích Phước Đạt, Giáo hội Phật giáo Nhất Tông đời Trần, tr. 1
[4] Thích Thông Phương, Trần Nhân Tông Với Thiền Phái Trúc Lâm, www.khongtu.com
[5] Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo đàng trong, TP HCM 1995
[6] Tam Tổ thực lục, Thích Phước Sơn dịch, Viện NCPHVN, 1995, tr.40-41.
[7] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Lá bối, Sài Gòn, 1974, tr.406.

Read more...

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Chú Đại Bi (Heart Dharani)

Namo Ratna Trayaya , Namo Arya Jnana sagara, vairochana.

Byuhara Jara Tathagataya, arahate , samyaksam Buddhaya.
Samvaksam Buddhe Bhvah, Namo Arva Avalokite.
Shoraya Bodhisattvaya, Maha Sattvaya, Maha Karunikaya.
Tadyata, Om Dara Dara, Diri Diri, Duru Duru.
Itte we, itte chale chale, Purachale Purachale,
Kusume Kusuma Wa Re
ili Mili Chiti Jvalam, Apanave Shoha

Read more...

Tình yêu mới

Tặng thầy Pháp Như Ca - nhạc sĩ

Tôi yêu em trong từng hơi thở
Từng nụ cười ánh mắt mến yêu
Vì đã yêu trong lòng sâu thẳm
Cùng mai về chốn núi thâm sơn.

Yêu em như đang yêu đời này
Cỏ cây sỏi đá bao người thương
Và cả dòng mây trắng trinh nguyên
Của buổi đầu mới lạ tinh khôi.

Hàng trúc xanh hàng cây lá đổ
Giữa bụi hồng em mỏi bước đi
Lúc xuân chiều rộn tiếng yêu thương
Tôi còn đó ngàn năm về lại.

Thích Pháp Bảo (12/12/2009)

Read more...

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2009

Công ơn đàn việt

Pháp Như

Trên con đường cầu đạo giải thoát vô thượng Bồ đề, những người xuất gia lúc nào cũng ôm ấp một đại nguyện “trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ”. Trong đó có công ơn của người đàn việt đã đắp xây cuộc sống hôm nay cho chúng ta mà không thể nào quên đươc. Vì thế trong kinh “Tứ ân” đức Phật đã dạy:
“Muốn tu học đạo mầu
Trước hết thân phải an
Từng bát cơm manh áo
Ân nghĩa đã muôn ngàn.
Ơn nhà nông cày cấy
Ơn người thợ dệt may
Ơn những ai xây đắp
Cuộc sống đẹp hôm nay.”
Cảm theo cái ý ấy, hằng ngay sau mỗi giờ quá đường vị chủ lễ thường phục nguyện:
“Thân phi nhất lũ thường tư chức nữ chi lao,
Nhật thực tam xan mỗi niệm nông phu chi khổ”.
Nghĩa là: Thân này khoác một manh áo đơn sơ nhưng thường nghĩ đến sự vất vả của người thợ dệt. Cơm ngày ăn ba bữa hằng nhớ đến sự khó khổ của kẻ nông phu.
Ý nghĩa của bài kệ ấy là nhằm để “nhắc nhở người xuất gia luôn luôn nhớ đến công ơn của người đàn việt”.

I. Công ơn của người đàn việt:
Vật dụng người xuất gia tất cả điều không phải tự mình mà có được. Manh áo đơn sơ mặc trên người là do sự vất vả khó nhọc của người thợ dệt ngày đêm cặm cụi nên. Bát cơm đạm bạc là nhờ công lao cực khổ của người nông phu phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà có được. Cho đến thuốc thang, giường chõng, sách vở, giấy mực, cây kim, sợi chỉ v.v.. điều do mồ hôi nước mắt, vất vả đắng cay của bao nhiêu người đem lại.
Người xuất gia hằng ngày được thọ hưởng những đồ ăn thức uống no đủ, mà đôi lúc còn có người đòi hỏi thêm, hay không vừa ý. Trong khi người đàn việt phải dãi dầu nắng mưa, gió bão lam lũ cả một đời nhiều lúc không đủ ăn, thế mà họ vẫn nhín một ít phần ăn của cả gia đình để cúng dường. Chúng ta không dệt vải mà vẫn có áo mặc dư dã. Mà không biết quý trọng, không biết mến tiếc. Trong khi những người thợ dệt phải vất vả ngày đêm mà nhiều lúc vẫn không đủ mặc, vẫn chưa đủ ấm. Khi bệnh tật có người đem đến cho ta thuốc quý mong chữa lành bệnh đủ sức khoẻ tu hành. Trong khi họ không đủ tiền để mua thuốc, hay thậm chí không đủ tiền để chữa trị lành bệnh. Chúng ta mỗi người một giường, đôi khị trải nệm ấm đắp chăm êm, sống trong tự viện đầy đủ tiện nghi; còn có người đàn việt phải nằm đất chõng tre, sống trong mái nhà tranh mục nát. Lấy sự cực nhọc của người đề cung phụng cho sự an lành của ta, vậy thì đối với chúng ta phải làm sao cho xứng đáng với công sức của họ! Cho nên đối với những công ơn của người đàn việt thì người đệ tử Phật với đầu tròn áo vuông làm sao có thể nào quên được?

II. Tầm quan trọng của sự cúng dường:
Người đàn việt vì muốn vun trồng cội phúc, muốn thoát khỏi biển khổ nên nhịn phần ăn tiêu của gia đình mà đem vật thực đến cúng dường Tam bảo. Nhờ sự cúng dường đó mà người xuất gia không phải bận rộn lo toan về miếng ăn, cái mặc để có thời gian chuyên tâm vào việc nghiên cứu và tu tập; nhằm bảo vệ, giữ gìn và phát huy chân lý Phật đà, giúp cho Phật pháp hưng long và truyền bá khắp nơi, làm cho chánh pháp không bị suy tàn mà vĩnh viễn trường tồn trên thế gian này.
Nếu không có sự cúng dường của người đàn việt thì Tăng Ni không thể tu hành một cách an ổn, vì “có thực mới vực được đạo”. Câu nói tuy đơn giản nhưng không đơn giản tí nào. Không có sự hỗ trợ cúng dường của người đàn việt thì Tăng Ni sẽ không đủ điều kiện hoằng dương chánh pháp. Do đó, sẽ làm cho giáo pháp của đức Thế Tôn suy tàn và dần dần mai một.
Sự ủng hộ vật chất của người đàn việt, đã góp phần rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và giữ gìn ngôi nhà Phật pháp. Tăng Ni có đủ phương tiện tu học; sự hiểu biết, lòng vị tha được phát huy tốt, sẽ góp phần xua tan thù hận cho nhân gian. Dòng nước từ bi mát dịu trong lành sẽ là chất liệu xua tan những tâm hồn tràn đầy những tham vọng cuồng si. Do vậy, sự cúng dường của đàn việt có ý nghĩa rất lớn trong đời sống xuất gia nói riêng và trong sự trường tồn Tam bảo nói chung.
III. Lợi ích của sự cúng dường:
Tam bảo là phước điền cho chúng sanh, vì nơi đó chúng sanh gieo một mà hưởng gấp trăm ngàn lần. Ví dụ như có khi vì lòng từ bi bố thí cho một người nào đó khi họ lỡ đường hoặc lúc đói khát, thì phước báo rất ít không bằng cúng dường cho người xuất gia. Vì người xuất gia sống một đời đạo đức, là tấm gương sáng cho mọi người, noi theo và tu tập mong đạt đến sự chứng ngộ để đem đến niềm an lạc cho chúng sanh, làm cho chúng sanh được nhiều lợi ích.
Trong kinh “Tứ thập nhị chương” phần “Bố thí độ” chương XI đức Phật đã dạy rằng: “Cho một trăm người ác ăn, không bằng cho một người lành ăn; cho một ngàn người lành ăn, không bằng cho một người trì ngũ giới ăn, cho một muôn (10.000) người trì ngũ giới ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tu Đà Hoàn ăn; cúng dường trăm muôn (1.000.000) vị Tu Đà Hoàn ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tư Đà Hàm ăn; cúng dường cho một ngàn muôn (10.000.000) vị Tư Đà Hàm ăn; không bằng cúng dường cho một vị A Na Hàm ăn, cúng dường cho một ức (100.000) vị A Na Hàm ăn, không bằng cúng dường cho một vị A La Hán ăn, cúng dường cho mười ức (1.000.000) vị A La Hán ăn không bằng cúng dường cho vị Bích Chi Phật ăn; cúng dường cho một trăm ức (10.000.000) vị Bích Chi Phật ăn không bằng cúng dường cho một Tam Thế Chư Phật ăn; cúng dường cho một ngàn ức (100.000.000) Tam Thế Chư Phật ăn, không bằng cúng dường cho một vị Vô Niệm Vô Trụ Vô Tu Vô Chứng ăn.”
Đức Phật nói lên điều này để chứng tỏ rằng cúng dường cho một vị xuất gia thì phước báo rất vô lượng, mà nhất là các vị tu hành chân chính có giới hạnh, có đạo đức và có tâm chứng trong thiền định. Vì đó là một phước điền thật sự cho chúng sanh. Nếu có một người nào may mắn cúng dường cho Phật lúc Ngài còn tại thế thì phước báo của người ấy vô lượng vô biên không thể nói hết được. Chúng tôi nói điều này không phải để khuyên người đàn việt lựa người mà cúng, nhưng đó là sự sai biệt của công đức cúng dường.
Sự cúng dường Tam bảo có công đức rất lớn đối với người đàn việt. Trong đời hiện tại họ thực hành đúng thiện pháp, diệt trừ tâm bỏn xẻn nên tâm dần dần được an lạc. Trong vị lai, nó là cái nhân phước thiện để khoát khỏi cảnh khổ bần cùng, là hạnh căn bản trong các hạnh, để một ngày nào đó có thể bước lên quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thoát khỏi vòng sanh tử khổ đau và trở thành một phước điền cho chúng sanh. Như bài kệ sau đây đức Phật đã nói với ông Cấp Cô Độc khi ông dâng cúng tinh xá Kỳ Viên cho Tăng đoàn:
“Hành pháp Phật ấy phước điền chân thật,
Gieo giống lành quả giải thoát về sau.
Hoa nở là khi tâm hết ra vào,
Trong tam giới đầy khổ đau sanh diệt”.

IV. Cúng dường như thế nào mới được lợi ích lớn?
Không phải tất cả việc cúng dường đều có phước báo như nhau mà nó có sự khác biệt nhiều ít. Phước báo tùy thuộc vào sự dụng tâm khi cúng dường của người đàn việt. Sự dụng tâm đó rất quan trọng để chúng ta biết phước báo nhận được nhiều hay ít, vô lậu hay hữu lậu. Đa phần người đàn việt đem vật thực đi cúng dường chỉ vì cầu sự bình an cho gia đình, sự thành đạt trong nghề nghiệp, sự may mắn trong mua bán v.v.. Như vậy, phước báo tuỳ tâm ứng hiện, nhưng đó chỉ là phước hữu lậu, mà phàm cái gì hữu lậu thì không thể tồn tại lâu được. Vì tâm mong cầu vẫn là tâm ích kỷ, tham lam; mà khi ích kỷ tham lam có mặt thì đau khổ sẽ xuất hiện. Một ngày nào đó khi hưởng hết phước hữu lậu chúng ta lại phải bị đọa lạc trong vòng sanh tử luân hồi.
Có người cúng dường rất nhiều nhưng trong lòng của họ xuất hiện tâm tự cao kín đáo và kiêu mạn ngày càng lớn mà không biết cách diệt trừ thì công đức sẽ bị hao tổn dần. Chỉ cần trong tâm khởi lên những điều bất thiện là công đức đã bị tổn, huống hồ là đem khoe khoang sự cúng dường nhiều ít để người khác nể trọng. Có người cúng dường rất hậu nhưng lại muốn người xuất gia phải chiều theo ý mình, đôi khi không vừa ý họ lại trở mặt nói xấu người xuất gia, làm cho đạo Phật càng suy yếu. Như vậy, quả báo về sau, phước thì vẫn hưởng nhưng tội vẫn phải gánh chịu.
Những điều nói trên là để rút ra bài học kinh nghiệm cho chính mình. Vậy thì cúng dường như thế nào mới có lợi ích lớn? đàn việt khi đem vật thực đến cúng dường với tâm tôn kính Tam bảo, hộ trì Tam bảo, để quý thầy quý cô đủ điều kiện mà tu hành và giáo hóa chúng sanh quay về chánh đạo, làm tăng trưởng đạo đức của con người để con người sống tốt với nhau hơn giữa thế gian tối tăm này. Vả lại, người xuất gia đâu chỉ có miếng ăn cái mặc mà còn biết bao nhiêu chuyện phải làm; nào là phát huy chân lý Phật đà, dịch kinh ấn tống, việc từ thiện xã hội, việc tổ chức tu học cho Tăng Ni Phật tử v.v... cần nhiều tài chính mới có thể quyên góp làm cho được. Chỉ cần trong tâm đàn việt có ý nghĩ đó thôi, thì người này khi sinh ra đời thường được nghe chánh pháp, thường được gần gũi Tam bảo mà tu hành, có nhân lành để trở thành một vị thánh trong tương lai. Vì tâm tùy hỷ cúng dường và vị tha này có thể giúp đàn việt chấp cánh bay ra khỏi tam giới.

V. Thái độ của người xuất gia:
Người xuất gia phải luôn biết ơn những tài vật của người đàn việt hiến cúng. Vì mỗi tấc vải, mỗi hạt cơm ân trọng như núi; đầy mồ hôi và nước mắt của đàn việt. Bằng những nỗi vất vả, lo toan, lam lũ quần quật suốt năm này qua tháng nọ để tìm ra manh áo chén cơm đem đến cúng dường, có khi họ phải tạo ra các nghiệp bất thiện dẫn đến sự tổn phước, tâm trí càng lu mờ vì mãi bon chen giữa dòng đời xuôi ngược. Khi đem vật thực đến cúng dường, họ còn dưng hai tay với lòng tôn kính thiết tha, thì ở đây thái độ của người xuất gia phải biết mến tiếc đối vối những vật thực cúng dường của họ, phải biết tôn trọng và yêu thương họ. Vì họ cũng là một con người chịu nhiều đau khổ như bao nhiêu người khác, thân thuộc của chúng ta. Người xuất gia phải có tâm bình đẳng không nên phân biệt giàu hay nghèo, không nên chê bai tốt xấu hoặc nhiều hay ít khiến họ nghe được mà sanh lòng phiền não làm giảm tín tâm của họ đối với Phật pháp. Phải khéo léo dùng sự hiểu biết của mình hướng dẫn họ tu tập theo con đường Bát chánh và biết đem công đức cúng dường hồi hướng về quả vị giác ngộ vô thượng chớ đừng mong cầu phước báo ở cõi trời và cõi người. Vì vậy, mỗi người xuất gia cần phải biết ơn và tìm mọi cách để báo ơn người đàn việt, nếu không thì không xứng đáng là một người xuất gia chân chánh. Trong kinh “Biết ơn” đức Phật đã dạy:
“Nếu có chúng sanh nào
Biết ơn và đền ơn
Người này thật đáng kính
Ta luôn luôn tán thán.
Ngưới nhớ ơn đền ơn
Người ấy dù xa ta
Đến trăm ngàn muôn dặm
Cũng không phải là xa
Vẫn gần ta bên cạnh.
Còn có chúng sanh nào
Không nhớ ơn đền ơn
Người ấy dù bên ta
Thân mặc y Ca sa
Vẫn xa ta ngàn dặm”.
Cho nên, người xuất gia đã từ bỏ gia đình, sống cuộc sống không gia đình, chỉ vì lý tưởng giác ngộ giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi, chớ không phải vì thức ăn ngon, y phục đẹp, sàng tọa tốt, dược phẩm quý v.v.. mà sống trong giới và luật của Thế Tôn. Vì vậy, người xuất gia phải nghĩ đến vô thường mà ngày đêm sáu thời tu tập lời Phật dạy, hầu làm tấm gương sáng cho mọi người noi theo và phải có ý tưởng siêu việt mong cho ta cùng tất cả chúng sanh sớm vượt qua bến sanh tử đến bờ giác ngộ. Cho dù kiếp này không đắc đạo thì trong một kiếp nào đó khi chúng ta rống lên tiếng rống của con sư tử. “Ba minh ta chứng được, lời Phật dạy làm xong”, thì tất cả những người đã từng cúng dường cho ta một hạt gạo hay một bát cơm ở trong kiếp này vẫn được lợi ích rất lớn.
Vì lòng thương tưởng đến chúng sanh, vì muốn cho chúng sanh được an lạc người xuất gia hãy chuyên cần. Người xuất gia tu tập để làm một ruộng phước cho chúng sanh gieo trồng. Hãy sống một đời thiểu dục, tri túc, giản dị để giữ hạnh thanh bần mà vui niềm vui đạo pháp; không đa cầu vì “các dục lạc của thế gian là vui ít khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm còn nhiều hơn”. Hãy nghĩ rằng: Khi ta mặc thêm một tấm áo đẹp là chúng sanh đang khổ cực thêm một chút nữa, khi ta ăn một bữa ăn ngon thì đàn việt càng vất vả hơn trăm ngàn lần. Cho nên chúng ta phải biết chế ngự thân tâm, chỉ cần có manh áo đơn sơ để che thân là đủ, chỉ cần có cơm ăn để giữ gìn tấm thân này mà làm phương tiện qua sông. Chúng ta phải lấy mục tiêu: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh” mà hướng đến chớ có dừng lại một mục tiêu nào khác.
Thế Tôn có dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Ngày nay chúng ta may mắn được làm thân người, lại xuất gia học đạo nghe được giáo pháp vi diệu của Thế Tôn để lại thì thật là điều đáng mừng. Bên cạnh đó chúng ta còn nhận được sự cung kính cúng dường của mọi người thì phải cố gắng tu hành chớ có ngủ quên trong sự hưởng thụ mà bỏ phí thời giờ trôi qua một cách vô ích theo các dục vọng của thế gian. Chúng ta phải nhớ đến lửa sanh tử ngày đêm thiêu đốt, lẽ vô thường không hẹn một ai mà tu hành cho có kết quả, để làm lợi ích cho chúng sanh và không để công ơn của người đàn việt trở thành vô nghĩa. Nếu không chuyên tâm tu tập thì không những đời này ta không được giải thoát mà muôn kiếp về sau còn phải chịu khổ đau trong biển khổ luân hồi và chỉ tiêu hao của đàn na tín thí. Đó là ta tự đào hố chôn ta chứ chẳng phải một người nào khác. Người xuất gia hãy tinh tấn tu tập vượt khỏi ba cõi sáu đường để làm một cội Bồ đề rợp bóng mát che chở cho chúng sanh và là một đóa hoa sen tỏa hương thơm ngát, “tuy gần bùn mà vẫn không tanh mùi bùn”.

Nguồn: Tập san Pháp Luân số 01

Read more...

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2009

Những mặt trời bé con của tôi

Pháp Như

Đêm nay lại một đêm không ngủ được, đồng hồ trên máy vi tính lúc này là 2h 01 phút sáng ngày 12 tháng 7 năm 2009.

Thời gian thắm thoát mà đã 4 tuần tôi đến nơi đây để dạy Phật pháp cho các em tại chùa Quan Âm, ấp Long Thới B, xã Long Thuận, Hồng Ngự, Đồng Tháp. Mặc dù tôi đã tham gia giảng dạy trong câu lạc bộ Hoàng Pháp Trẻ đã được ba năm, trong suốt ba năm ấy tôi chỉ tham gia giảng dạy cho các đạo tràng Bát quan trai chứ không đi giảng dạy cho các em thanh thiếu niên. Phải nói thật dạy cho các em là điều rất khó khăn. Ngày xưa khi còn tham gia trong Ban Hoằng Pháp Tăng Ni Sinh Thiện Nguyện mỗi lần sinh hoạt với các em là tôi chẳng biết nói gì. Vì tôi không có duyên với trẻ em, tôi không phải là người vui tính hay thích đùa nên không biết cách làm cho các em vui. Chính vì vậy mà tôi không chọn đi dạy cho các em mà dạy cho các đạo tràng bát quan trai dành cho người lớn. Ba năm không phải là dài nhưng cũng đủ để tôi tích trử kinh nghiệm cho mình trên bước đường hoằng pháp.

Tôi sẽ không bao giờ quên được ngày đầu tiên tôi đến ngôi chùa Quan Âm này, hôm đó là ngày thi môn Xã hội học đô thị trong kỳ thi học kỳ 2 năm thứ 3 tại trường đại học Tôn Đức Thắng. Tôi thi xong lúc đó là 3 giờ chiều nhưng tôi phải ra bến xe Miền Tây ngồi chờ xe 5 giờ chiều mới khởi hành. Đáng lẽ cô Như Thuận là người sẽ đưa tôi đi đến đây nhưng cô lại có việc đột xuất vì có một sư bà mất, cô phải đi viếng. Cô nhờ sư cô Như Nhân đưa tôi đi nhưng sáng hôm đó sư cô Như Nhân lại bệnh. Thế là tôi phải giữ đúng lời hứa và lên xe đi một mình. Nói thật là tôi cũng chưa kịp hỏi sư cô Như Thuận là dạy ở chùa nào, chỉ có xin số điện thoại của thầy trụ trì nơi đó và đi thôi. Ngày xưa đến giờ tôi vẫn vậy, dù có nhận lịch đi giảng dạy hay đi hát là đi thôi không cần biết những người nơi đó là ai, cũng không cần họ ở đâu, miễn huynh đệ nhờ mà tôi sắp xếp được là vác ba lô mà đi thôi.

Trên chuyến xe từ thành phố về đây, cộng thời gian qua phà, qua đò, nghỉ ngơi … mất khoảng 6 tiếng đồng hồ. Phải nói thật là tôi không quen với sông nước miền Tây, nhất là đi qua các chuyến phà về đêm chỉ có một mình thật sự là buồn, nhiều lúc phải gọi điện cho các huynh đệ trong câu lạc bộ cho đặng quên đi chuyến đường dài. Giờ này nếu ở thành phố thì tôi cũng đã ngủ được một giấc ngon lành rồi, nhưng thôi không sao cả. Khi xe dừng tại bến đò số 10 là đã gần 11 giờ đêm. Những ngôi nhà quanh đây đã chìm trong giấc ngủ, chỉ còn le lói những ngọn đèn đường. Tôi đi thẳng xuống bến đò nhưng cũng không biết đò ở đâu. Lúc đó tôi gọi điện thoại cho thầy trụ trì, nhưng nói thật lúc đó tôi chưa biết thầy trụ trì tên gì nữa. Thầy nói tôi đi thẳng xuống sẽ có đò, nhưng lúc đó tôi đứng cách mặt nước chỉ có một bước chân, nếu tôi đi thẳng xuống là tôi sẽ đi xuống sông. Qua 6 tiếng đồng hồ rốt cột tôi cũng đến được nơi tôi cần đến. Thầy trụ trì ngồi đượi tôi 11 giờ đêm làm cho tôi cảm thấy áy náy trong lòng. Hỏi ra mới biết thầy trụ trì pháp hiệu là Thích Giác Ân.

Rồi đêm hôm đó cũng qua, đến sáng tôi thấy các em đến rất sớm và rất vui làm tôi cũng thật sự run, không biết là lát nữa phải nói với các em điều gì. Trước khi đi sư cô Như Thuận dặn tôi dạy cho các em Phật pháp vào đời bài số 3 và dạy cho các em một bài hát. Nói thật một điều dù tham gia trong câu lạc bộ đã lâu nhưng tôi chưa bao giờ đụng đến cuốn Phật pháp vào đời vì tôi nghĩ đó là giáo trình dành cho các em thanh thiếu niên, còn mình đi dạy bát quan trai thì đâu có đụng đến nó làm gì. Nhưng hôm nay tôi phải đụng đến vì công việc mà không muốn cũng phải chịu thôi. Còn phần dạy hát cho các em thì tôi không sợ vì đó là sở trường của tôi mà. Phải nói thật là tham gia trong câu lạc bộ Hoằng Pháp Trẻ để đi giảng dạy giáo lý mà mọi người mời tôi đi hát nhiều hơn đi giảng. Dù giới luật cấm người xuất gia không được ca hát nhưng tôi vẫn thích hát. Vì tôi đến với âm nhạc trước khi đến với đạo Phật và âm nhạc là cuộc sống của tôi. Chắc cũng tại nghiệp chướng của tôi quá sâu nên kiếp này có giọng hát mà không được làm ca sĩ mà phải đi hát ở các chùa để trả lại một món nợ nào đó mà tôi đã mắc phải với Phật pháp từ một kiếp xa xưa. Âu đó cũng là nhân duyên nên cũng khó nói trước lắm.

Trước khi bước vào giờ học Phật pháp tôi cho các em ôn lại bài cũ sau đó cho các em trả bài. Các em đưa tay xung phong trả bài rất tốt và thuộc lòng nữa, mỗi một câu trả lời đúng các em được nhận một CD nhạc của tôi, đó là những sản phẩm mà tôi quý và trân trọng nhất trong đời làm nghệ thuật của mình. Nó là sự kết tinh bởi niềm đam mê âm nhạc cộng với sự am hiểu về giáo lý của đạo Phật mà tôi đã làm nên. Phải cộng nhận là các em ở đây ham học và sôi nổi, nhất là những trò chơi đố vui Phật pháp và học hát các em đều rất nhiệt tình. Ngày đầu tiên ra quân mà thấy các em hăng hái như vậy thì tôi cũng vui. Thầy trụ trì cũng nói chuyện với thầy Phước Huệ mời tôi làm chủ nhiệm cho lớp học này. Quả thật hồi nào đến giờ tôi chỉ tham gia giảng dạy mà không nhận làm chủ nhiệm vì công việc của tôi nhiều, có những công việc không tên tôi không thể nói vì nó không giống ai. Nhưng vì tôi vừa thi xong ở bên trường đại học cũng được nghĩ một tháng nên cũng nhận lời vì lúc này mùa an cư kiết hạ các huynh đệ khác cũng không thể đi dạy xa được.

Như vậy cứ thế mỗi tuần tôi đều về đây dạy cho các em trong hai ngày thứ bảy và chủ nhật. Nói là hai ngày nhưng phải mất bốn ngày vì thứ sáu phải đi rồi để kịp sáng thứ bảy dạy, còn chủ nhật dạy xong cũng bốn giờ chiều, muốn về thành phố cũng phải đến ngày thứ hai mới có mặt ở tại thành phố được. Những tuần đầu các em vẫn chưa ngoan, chưa quen với những quy định ở chùa từ việc vứt rác, cho đến việc để dép ngay ngắn trước khi vào chánh điện tôi cũng phải dạy bảo tận tình. Tôi là người không thích nói nhiều nhưng vì hướng dẫn cho các em mà mỗi lần xong hai ngày học là cổ họng tôi cứ đau không nói được. Sau những giờ phút mệt mỏi căng thẳng nhìn thấy nụ cười của các em tôi lại vui. Tôi nhớ đến một câu hát của nhạc sĩ Trần Tiến trong ca khúc Mặt trời bé con có đoạn: “Hạnh phúc quá đơn sơ đừng quên các em thơ, từng đêm em vẫn chờ như chờ từng giấc mơ”.

Các em ở nơi đây nghèo nàn về vật chất, thiếu thốn về tinh thần, nhận thức chưa sâu sắc nên những tuần đầu rất cực với các em. Có nhiều em không ngoan làm nhiều khi tôi cũng buồn và nản. Phần vì đường xá xa xôi, đi lại không thuận tiện, sức khỏe không cho phép, phần dạy mà các em không ngoan thì thật là đáng buồn. Có nhiều lúc định bỏ cuộc không muốn xuống nữa nhưng không biết tại sao lại phải cứ tiếp tục duy trì việc dạy lớp học này.

Thấy thầy trụ trì có tâm với các em nên mình cũng phải phụ với thầy một tay. Cái hôm bể tượng Phật tôi đứng chết lặng người không nói được lời nào, chỉ muốn vào cuốn gói về thành phố. Nhìn gương mặt của Phật nằm dưới đất tôi cảm thấy xót xa và tự trách mình. Nếu tôi dạy cho các em tốt hơn thì đã không như vậy. Tôi không biết lát nữa thầy về tôi phải nói gì với thầy đây vì mình dạy mà các em không ngoan là lỗi của mình. Tôi cảm thấy có lỗi và không muốn trở về đây dạy nũa. Nhưng khi thầy về vẫn nói cười vui thì tôi cũng yên tâm và nhẹ nhàng như vừa vứt bỏ một gánh nặng. Sau tai nạn đó các em ngoan hơn, ít chạy nhảy hơn và nghe lời hơn, tôi cũng an ủi được phần nào.

Nhiều khi từ thành phố về đến đây vào lúc tối mà lại gặp mưa, còn cảnh kêu đò mới thê thảm. Cái cảm giác đứng giữa mưa gọi đò trong một đêm tôi sẽ không bao giờ quên. Gọi đò thì chẳng thấy đò đâu còn gọi điện thoại cho thầy trụ trì thì lại không bắt máy. Lúc đó tôi cảm thấy lạc lỏng giữa sông nước và chỉ muốn về lại thành phố. Còn có chuyện này mà tôi không bao giờ quên trong cuộc đời mình là lần đầu tiên tôi bị ngủ ở ngoài đường. Hôm đó dạy xong đi chuyến xe tám giờ tối về lại thành phố lúc một giờ khuya. Gởi xe máy tại biện viện 30 tháng 4 trên đường Sư Vạn Hạnh họ nói là gởi xe đêm. Mình cứ tưởng rằng về giờ nào lấy cũng được ai ngờ giờ đó những người giữ xe đi về giao lại cho mấy chú bảo vệ trực cổng mà mấy chú cũng ngủ, hỏi mấy ông xe ôm nói là 3 giờ mới cho lấy xe. Nghe vậy thôi cũng ráng chờ thêm hai tiếng nữa rồi lấy xe luôn vì sáng mai còn một vài công việc cần phải làm là đi đặt làm bảng tên cho các em. Hứa với ai điều gì chứ hứa với con nít mà mình không làm thì các em buồn mình lại mang tội. Thế là tôi cứ vác ba lô đi lên đi xuống cho qua mau thời gian, phải nói đêm hôm ấy đối với tôi thật là dài. Đi lên xuống cũng mỏi chân nên tôi ghé một quán cà phê cóc bên đường để kêu ly cà phê uống. Nói thật giờ đó cũng chẳng ham uống cà phê mà cốt để có cái ghế ngả lưng. Vừa uống vừa ngủ trong sự phập phồng vì mình là tu sĩ mà giờ này còn ở ngoài đường sợ người ta đánh giá. Ngủ không yên mà thức cũng không xong nhưng cũng đến 3 giờ sáng. Nhìn đồng hồ trên chiếc điện thoại di động cũ mèm chỉ 3 giờ tôi cũng mừng trong bụng nên trả tiền cà phê để đi lấy xe. Đâu có uống hết ly cà phê vì không phải cà phê đắng mà là cuộc đời đắng. Đến bệnh viện cũng chưa mở cửa hỏi các bác xe ôm thì nói là 5 giờ mới cho lấy xe. Ối trời, lại phải đợi thêm 2 tiếng nữa. Tôi vác ba lô đi lên xuống đi xuống mệt quá nằm đại bên băng ghế nhà chờ xe buýt nghỉ đỡ. Phải khen cái ông nào đó đã có quyết định sáng suốt thiết kế cái ghề ngồi chờ xe buýt bằng 3 cái thanh inox ghép lại. Thiết kế làm sao mà chỉ để ngồi thôi chứ không phải để nằm, nằm cũng phải khéo kẻo không lại lọt xuống đất. Mà phải vậy thôi, thiết kế ghế ngồi chờ xe buýt chứ đâu phải ghế nằm chờ xe buýt đâu. Nếu ghế nằm được thì đã không tới lượt khách ngồi chờ xe buýt mà dân bụt đời đã chiếm làm giường ngủ rồi. Và đây là lần đâu tiên một người tu sĩ như tôi phải nằm ngủ cho qua đêm.

Thôi bỏ qua chuyện cũ, tuần này là thi giữa kỳ tôi bệnh nên nhờ cô Như Thuận đi xuống dùm vạy mà hôm thứ 5 cô báo lại là cô mới ngồi taxi đi khám bác sĩ, thế là tôi cũng phải đi xuống. Sáng thứ 6 tôi dạy không nỗi nên gọi điện thoại cho các huynh đệ nhờ “quyền trợ giúp” gọi hết cái card mà không mời ai, may mắn làm sao nỗi lòng của tôi cũng thấu trời xanh nên mời được sư cô Tịnh Hạnh đi với tôi. Hơn một năm rồi không đi làm việc chung như hồi còn trong Ban Hoằng Pháp Tăng Ni Sinh Viên Thiện Nguyện tôi kể cho cô nghe về các em, về ngôi chùa Quan Âm, về thầy trụ trì và các thầy cô giáo tình nguyện vào chùa dạy văn hóa. Sự nhiệt tình của các thầy cô làm tôi cũng kính phục dù tôi chưa có thời gian nào để tiếp chuyện với họ.

Hôm qua cho các em thi giữa kỳ số lượng học sinh giảm hẳn đi và đề thì cũng còn thừa dù tôi photo chỉ có 250 bộ. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ một điều là em nào thật sự muốn học còn em nào tới để chơi. Thi xong tôi cùng sư cô Tịnh Hạnh, thầy Học, thầy Thiện chấm bài cho các em. Đọc những bài cảm nhận của các em thật sự tôi cảm thấy xúc động vì bây giờ các em đã ý thức được những việc của mình làm. Tuy bài cảm nhận chỉ có 20 phút, các em cũng đã nói lên nỗi lòng của mình. Và chính từ việc đọc các bài cảm nhận của các em mà tôi đã viết bài cảm nhận này.

Cuộc vui nào rồi cũng sẽ tàn, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua đi như con sóng nào rồi cũng vỡ. Mong rằng trên vạn nẽo đường đời và trong luân hồi chúng ta gặp nhau dù vui hay buồn cũng xin hãy trân trọng những tình cảm tốt đẹp ấy. Tôi xin mượn một đoạn thơ trong bài thơ Còn gặp nhau của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương thay cho lời kết:

"Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời."

Read more...

Đợi chờ - Thanh Lam

Một cõi đi về

Một mình - Thanh Tùng

Ôi quê tôi - Vũ Xuân Bắc

Đóa hoa vô thường (1)

Điệu buồn phương Nam

Mưa bay tháp cổ - Tùng Dương

Đóa hoa vô thường (2)

Như cánh vạc bay






  © Blogger templates ProBlogger Template by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP