Xin hân hạnh giới thiệu đến vị quý 80 mã số nhạc chờ của Pháp Như trên Mobifone: 1 Ân cha mẹ như biển trời 50611055, 2 Ân cha mẹ như biển trời 5166917, 3 Bông hồng cài áo 50611062, 4 Bông hồng cài áo 5166918, 5 Bông hồng dâng cha 50611064, 6 Bông hồng dâng cha 5166919, 7 Bước chân Yên Tử 50611067, 8 Bước chân Yên Tử 5166920, 9 Chùa tôi 50611072, 10 Chùa tôi 5166921, 11 Còn thương rau đắng mọc sau hè 50611076, 12 Còn thương rau đắng mọc sau hè 5166922, 13 Đêm Pháp Hoa 50611080, 14 Đêm Pháp Hoa 5166923, 15 Diệu pháp 50611081, 16 Diệu pháp 5166924, 17 Diệu pháp âm 5166925, 18 Đời Tăng lữ 50611087, 19 Đời Tăng lữ 5166926, 20 Em đi trên cỏ non 50611089, 21 Em đi trên cỏ non 5166927, 22 Gánh hàng rong 50611092, 23 Gánh hàng rong 5166928, 24 Giấc mơ cánh cò 50611095, 25 Giấc mơ cánh cò 5166929, 26 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 50611097, 27 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 5166930, 28 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 50611098, 29 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 5166931, 30 Làng tôi 50611129, 31 Làng tôi 5166932, 32 Lạy Phật Quan Âm 50611128, 33 Lạy Phật Quân Âm 5166933, 34 Lời sám nguyện 50611126, 35 Lời sám nguyện 5166934, 36 Lời tạm biệt của người tìm đạo 50611124, 37 Lời tạm biệt của người tìm đạo 5166935, 38 Lòng mẹ 50611123, 39 Lòng mẹ 5166936, 40 Lục cúng dường 50611121, 41 Lục cúng dường 5166937, 42 Mẹ là Phật 50611119, 43 Mẹ là Phật 5166938, 44 Mẹ là vầng trăng 50611118, 45 Mẹ là vầng trăng 5166939, 46 Mẹ tôi 50611114, 47 Mẹ tôi 5166940, 48 Mẹ Từ Bi 50611110, 49 Mẹ Từ Bi 5166941, 50 Mùa duyên 50611107, 51 Mùa duyên 5166942, 52 Ngọn lửa tuổi hai 50611105, 53 Ngọn lửa tuổi hai 5166943, 54 Ống thổi lửa 50611103, 55 Ống thổi lửa 5166944, 56 Phật Hoàng Trần Nhân Tôn 50611100, 57 Phật là ánh từ quang 50611096, 58 Phật về 50611093, 59 Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật 50611091, 60 Tạ ơn mẹ 50611090, 61 Tâm xuân 50611084, 62 Tâm xuân 5166945, 63 Thì thầm với nắng 50611083, 64 Thì thầm với nắng 5166946, 65 Thiền sư Chùa Đậu 50611078, 66 Thiền sư Chùa Đậu 5166947, 67 Thờ kính mẹ cha 50611075, 68 Thờ kinh mẹ cha 5166948, 69 Tiếp bước dấu chân xưa 50611073, 70 Tiếp bước dấu chân xưa 5166949, 71 Trăng tròn tháng tư 50611071, 72 Trăng tròn tháng tư 5166950, 73 Trở lại Bạc Liêu 50611070, 74 Trở lại Bạc Liêu 5166951, 75 Vì có Phật 50611069, 76 Ví có Phật 5166952, 77 Vu Lan nhớ mẹ 50611066, 78 Vu Lan nhớ mẹ 5166953, 79 Xuân trong cửa thiền 50611063, 80 Xuân trong cửa thiền 5166954, * Để chọn bài hát làm nhạc chờ trên mạng Mobifone:Soạn tin nhắn theo nội dung như sau: 1. Đăng ký sử dụng, soạn tin: DK gởi 92242. Cài đặt bài hát- Cài đặt bài hát: CHON masobaihat gởi 9224 Ví dụ: để tải bài Đời Tăng lữ bạn chỉ cần soạn: CHON 50611087 gởi 9224 - Gửi tặng: TANG mabaihat sodienthoainhan gởi 9224 Ví dụ: để tặng bài Đời Tăng lữ cho bạn bè bạn chỉ cần soạn: TANG 50611087 số điện thoại người nhận gởi 9224 Để biết thêm chi tiết xin vui lòng truy cập: http://www.mobifone.com.vn
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

Triết lý hư vô về kiếp người, cuộc đời trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

Pháp Như


DẪN NHẬP
Việt Nam là một đất nước có nền văn học vô cùng phong phú và đa dạng. Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, khi thịnh vượng, lúc suy tàn, nhưng thời đại nào cũng có những nhà văn, nhà thơ uyên bác đã để lại cho đời nhiều tác phẩm hay. Nhiều người được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới như Nguyễn Trải, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Họ đã có những tác phẩm kiệt xuất vượt lên cả mọi thời đại. Những tác phẩm của họ để lại như những di sản tinh thần làm rạng danh dân tộc Việt Nam, với nội dung và giá trị mang tính nhân văn cũng như tính giáo dục cao. Những tác phẩm đó phản ánh hiện thực cuộc sống của một giai đoạn lịch sử nào đó mà các tác giả đã sống đã thao thức và trăn trở. Sự tiếp thu những giá trị văn hóa – xã hội cũng như lịch sử và tôn giáo trong xã hội Việt Nam đã được đưa vào các tác phẩm của các tác giả ấy một cách tài tình mà khi nhắc tới người đọc phải nghiêng mình nể phục.
Trong thế kỷ XVIII cũng có một tác giả nỗi bật với tác phẩm được xem là một tuyệt tác của thi ca chữ Nôm đó là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Không giống như tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du khi viết nên Truyện Kiều phải lấy ý tưởng từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm khúc được dịch lại của Đặng Trần Côn mà Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là một tác phẩm rất Việt Nam không dựa vào đâu cả. Nó phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII với biết bao bất công và bế tắc. Sự bất công được thể hiện qua khát vọng tự do được yêu thương được sống như bao người phụ nữ và sự bế tắc được thể hiện qua ước muốn được thoát ra khỏi cái “lồng son” của cung cấm để sống với cảnh đời “cục mịch nhà quê” của người cung nữ mà không được. Tác giả đã thông qua lời của người cung nữ nói lên tâm trạng của mình với nỗi thương cảm cho thân phận và cuộc đời phải chịu nhiều đắng cay.
Với những từ ngữ Hán Việt, những điển tích và điển cố xưa trong những tác phẩm xưa của Trung Quốc tác giả đã miêu tả cuộc sống của nàng cung nữ trong cung vua với những cảm xúc thăng trầm. Cùng với những tư tưởng của đạo Phật, đạo Lão và đạo Nho đã phác họa nên một tác phẩm mang đậm màu sắc hư vô trong thân phận kiếp người và cuộc đời. Chính vì vậy người viết đã chọn đề tài: “Triết lý hư vô về kiếp người, cuộc đời trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.” Đây là một tác phẩm được viết trong thời Lê-Trịnh nhưng vẫn mang màu sắc tôn giáo và chính từ đó đã nỗi bật lên triết lý hư vô về thân phận kiếp người cũng như về cuộc đời một cách tài tình.
NỘI DUNG
1. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
1.1. Tiểu sử Nguyễn Gia Thiều
Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 22 tháng 3 năm 1741 (nhằm ngày 5 tháng 2 năm Tân Dậu), ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình vào cuối thời vua Lê chúa Trịnh.
Cha ông là Nguyễn Gia Cư, một quan võ được phong tước Đạt Vũ Hầu và mẹ là Quỳnh Liên quận chúa. Ông gọi chúa Trịnh Cương là ông ngoại vì Quỳnh Liên quận chúa là con gái của chúa Trịnh Cương. Ông nội là Nguyễn Gia Châu, một võ quan nhưng thông kinh sử được phong tước công. Ông gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là anh em họ với chúa Trịnh Sâm. Vợ ông là con gái trưởng của quan Chưởng phủ sư Đại tư đồ Bùi Thế Đạt.
Năm lên sáu tuổi, ông đã được vào học trong phủ chúa vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa. Năm 1759 khi mới 18 tuổi, ông giữ chức Hiệu úy, quản Trung mã tả đội. Sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự. Năm 1782, ông được thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hóa. Ông là một người tài năng đa dạng, có công với triều đình nên được chúa Trịnh tin dùng và phong tước Ôn Như Hầu.
Trong thời gian làm tổng binh ở Hưng Hóa, dù có công và được khen thưởng nhưng ông vẫn thường bỏ về nhà riêng ở Hồ Tây để làm thơ và bàn luận về triết học với bạn bè. Có người nói rằng chúa Trịnh không còn tin dùng ông nữa nên đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hóa vì thế mà ông chán nản bỏ về nhà sống cuộc đời tài tử, làm thơ, uống rượu và cả tu hành với hiệu là Như Ý Thiền. Ông còn những biệt hiệu khác là Hy Tôn Tử, Tân Thi Viện Tử và Sưu Nhân.
Ông là người có sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học, triết học và còn tinh thông âm nhạc. Sở trường âm nhạc của ông là các bài ca, bài tán và là tác giả của bản Sơn trung âm và Sở từ điệu. Ông còn tinh thông hội họa và vẽ rất đẹp. Bức tranh lớn của ông là Tống sơn đồ đã dâng vua xem và được vua khen thưởng. Ông am tường cả kiến trúc và trang trí nên được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích ở Bắc Ninh. Đáng tiếc là các công trình nghệ thuật của ông đến nay không còn được lưu lại.
Sự nghiệp văn chương của ông cũng để lại nhiều tác phẩm có giá trị cao. Về thơ chữ Hán, ông có hai tập là Ôn Như thi tập khoảng một ngàn bài nhưng đến nay đã bị thất lạc. Về tác phẩm chữ Nôm, ngoài Cung oán ngâm khúc còn có Tây hồ thi tập và Tứ trai thi tập hiện chỉ còn vài bài chép trong tập Tạy ký của Lý Văn Phức như Cảnh trong vườn và Miếng tình.
Nguyễn Gia Thiều có nhiều con, trong số đó bốn người con đầu giỏi văn chương, có một tác phẩm chung là Tứ trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai - tức Nguyễn Gia Thiều, Kỷ Trai - Nguyễn Gia Cơ, Hoà Trai - Nguyễn Gia Diễm và Thanh Trai - Nguyễn Gia Chu.[1]
Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh vào năm 1786, ông đã ở ẩn tại miền núi xứ Hưng Hóa. Đến năm 1789, khi Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh và lập ra triều Tây Sơn vua đã mời ông cộng tác với triều đình nhưng ông cáo bệnh từ chối. Ông trở về quê cũ và sống ở đấy cho đến ngày 22 tháng 6 năm 1798 (nhằm ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ) thì qua đời, hưởng dương 57 tuổi.
Tên của ông được đặt cho một phố yên tĩnh, có nhiều biệt thự kiến trúc Pháp ở thủ đô Hà Nội, gần hồ Thiền Quang. Không những thế tên ông còn được đặt cho các tên trường và tên đường trong một vài tỉnh thành trên đất nước Việt Nam.
1.2. Nội dung và ý nghĩa tác phẩm Cung oán ngâm khúc
Cung oán ngâm khúc là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát[2]. Đây là một bài ca ai oán cho thân phận của một người cung nữ tài sắc vẹn toàn, lúc đầu được vua ân sủng, yêu thương thắm thiết nhưng chẳng bao lâu lại bị bỏ rơi. Ông đã dùng ngòi bút của mình với lối văn độc thoại để giải bày tâm trạng đau đớn của người cung nữ khi bị nhà vua ruồng bỏ. Nàng ý thức rõ được phẩm chất và tài năng của mình nên lặng lẽ tố cáo cuộc sống xa hoa phe phởn của vua chúa đã biến người phụ nữ thành món đồ chơi để thỏa mãn dục vọng một cách vô đạo. Sống trong cung cấm với nỗi cô đơn, tù túng nàng muốn thoát ra ngoài để trở về với cuộc sống “cục mịch nhà quê” của ngày xưa nhưng nàng vẫn bị giam cầm với bao nỗi niềm chất chứa. Cuối cùng, nàng vẫn khát khao được sự ân sủng nhỏ nhoi của vua như ngày nào nhưng đó chỉ là một ước mơ đầy tuyệt vọng. Và nàng nhận ra cõi đời này chỉ là những phù du, hư vọng, không thật như vừa tỉnh một giấc mơ.
Cung oán ngâm khúc được xem như một bản cáo trạng tố cáo chế độ phong kiến đã chà đạp con người thông qua là tiếng thét ai oán của một trang tố nữ tài sắc vẹn toàn và tình cảm trong sáng, cao quý mà bị ruồng bỏ. Hình ảnh cung nữ chính là nạn nhân của chế độ phong kiến mang đầy bản chất ích kỷ hẹp hòi đến vô đạo của vua chúa đã biến họ thành món đồ chơi để thỏa mãn thú tính rồi ném bỏ không thương tiếc vào quên lãng. Nguyễn Gia Thiều đã thấy được cảnh này khi lui tới trong phủ chúa nên cảm thương cho nỗi lòng của người cung nữ. Với tấm lòng nhân đạo ông đã dồn hết tâm huyết và văn tài của mình để viết nên một tác phẩm bất hủ, đau đớn đến xé lòng về cuộc đời nàng. Nhưng ý nghĩa của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn là “Nguyễn Gia Thiều đã mượn lời cung nữ để nói lên tâm sự bế tắc của mình, cũng là sự bế tắc của lớp nhà Nho thời đại ông, đầy chán chường và mệt mỏi.”[3]
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TRIẾT LÝ HƯ VÔ VỀ KIẾP NGƯỜI, CUỘC ĐỜI TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC
Qua tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều bày tỏ tâm sự của một kẻ sĩ đã nhìn thấy bao tang thương, thăng trầm, biến đổi của cuộc sống mà chính ông là người đã sống trong những biến cố ấy. Sự bế tắc của một thời đại với những tấm bi kịch đến tê tái trên thân phận kiếp người thông qua lời của người cung nữ đã vẻ nên một bức tranh ảm đảm cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng dường như ông chỉ mượn tâm sự của người cung nữ để nói lên nỗi niềm u uất của ông và cũng là của bao nhiêu người khác phải chịu nhiều bất công dưới chế độ phong kiến. Đến khi nỗi u uất đến đỉnh điểm ông đã lãng quên tâm trạng của người cung nữ mà trực tiếp bộc lộ về suy nghĩ của mình về kiếp người, về cuộc đời với triết lý hư vô rải rác trong tác phẩm và vô cùng sắc xảo đến từng chi tiết cũng như câu chữ.
Hư vô ở đây không phải Không cũng không phải Có. Ý thức, sự suy nghĩ thì bị giới hạn trong thế giới nhị nguyên :có và không. Nếu vượt có, không, lòng không dính mắc, sẽ trực nhận được Hư Vô. Chúng ta đã quá quen thuộc và trọn tin nơi ý thức, Hư vô không phải tư duy mà được, càng tư duy con người càng sai lầm và ý thức của con người không phải là một thứ dễ tin tưởng. Theo nhà Phật khi con người chưa giải thoát thì mọi tư duy của con người vẫn bị vô minh chi phối. Tất cả mọi khái niệm đều bị giới hạn và hư vô nếu có khái niệm thì cũng không chính xác. Càng lăn xăn suy nghĩ về khái niệm càng xa lìa Hư Vô, tánh Không, Phật tính, bản thể vũ trụ. Nói chung hư vô là không có gì tuyệt đối, không thật có cũng không thật không, là hư vọng, giả hợp thoát ra hẳn tư duy của con người và hư vô nó có những biểu hiện của nó. Và trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có mang những biểu hiện của hư vô.
2.1. Quan niệm “Đời là bể khổ” trong Cung oán ngâm khúc
Với giọng văn gồm nhiều từ ngữ của nhà Phật, Nho, Lão, Ôn Như Hầu đã giải thích về nhân sinh, vũ trụ và cuộc đời. Ông cho rằng cuộc đời là bể khổ mê tân, con người từ khi có mặt ở cõi đời này đã là khổ:
“Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc chào đời mà ra!” (câu 55 - 56)
Đây là quan niệm “Sinh là khổ”, một trong Bát khổ của Khổ đế mà Đức Phật đã nói trong Tứ Đế. Khổ đế là chân lý đầu tiên trong Tứ Đế, nói lên sự thống khổ của chúng sinh và “Sinh là khổ” là điều đầu tiên mà Đức Phật đề cập đến. Khi mới sinh ra con người đã là khổ rồi và nỗi khổ đó được báo trước nên tiếng kêu đầu tiên lại là tiếng khóc. Tại sao không phải là tiếng cười mà là tiếng khóc vì tiếng khóc báo hiệu sự có mặt trên cõi đời này của con người sẽ chịu nhiều nỗi khổ mà sinh là nỗi khổ đầu tiên mà con người phải gánh chịu. Cùng quan điểm đó, Nguyễn Công Trứ cũng có câu:
“Thoạt mở mắt thì đà khóc chóe,
Trần có vui sao chẳng cười khì.”
Thật vậy, cuộc đời có vui gì đâu mà cười, chính vì không vui nên mới phải khóc lúc sinh ra chứ. Trịnh Công Sơn trong nhạc phẩm Phôi pha cũng có đoạn: “Thôi về đi, đường trần đâu có gì”. Đúng vậy, đường trần không có gì cả chỉ là khổ thôi, mà Đức Phật cũng đã nói: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển” và con người chỉ là cánh bèo trôi nỗi dập dền trong bể khổ ấy:
“Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.” (câu 67 - 68)
“Bể khổ: từ Hán Việt là khổ hải. Đức Phật ví sự khốn khổ của chúng sanh mênh mông vô cùng như biển”[4]. Bến mê: bởi chữ mê tân, nhà Phật nói: sự ngờ vực ở nơi tam giới và lục đạo thì gọi là mê tân, bến lạc đường phải nhờ thuyền Từ-bi của Phật mới đưa vào đến bến được. Con người không thể định hướng cho chính mình mà chịu sự tác động của những yếu tố khách quan khác. Ôn Như Hầu ví thân phận con người như là bọt bèo để mặt cho dòng nước cuốn đi vào bến bờ vô định. Nghĩ đến thân thể mà đau đớn xót xa khi phải mang thân người. Khổng Tử cũng nói: “Ta khổ vì ta có cái thân này”, nếu không còn thân này nữa thì ta có hết khổ chăng! Chưa hẳn thế, không biết khi không còn thân nữa thì ta có hết khổ không nhưng chỉ biết rằng khi có thân thì chắc chắn là có khổ. Đau đớn hơn cả là con người không thể làm được những gì mà mình muốn nên phải cứ dằn vặt trong biển khổ đau thương:
“Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh” (câu 71 - 72)
Bào ảnh: là cái bọt cái bóng. Kinh Kim Cương nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ riệc như điện, ưng tác như thị quan.” Nghĩa là: Tất cả các pháp như giấc chiêm bao, như chuyện huyền ảo, như bọt nước, như bóng đèn, như giọt sương móc và cũng như ánh sáng chớp nhoáng. Ý nói những sự hiện hữu trên đời đều không được lâu bền, là giả tạm, là vô thường.[5] Dù biết đời là tạm bợ, thân là giả dối không thật, đó là đứng trên phương diện pháp tướng của nhà Phật mà nói, nhưng cái mà con người đối diện với những đau khổ cay cực của cuộc đời là có thật. Cái đau khổ đó không những người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc muốn thoát ra mà cả Nguyễn Gia Thiều cũng muốn phá tan cái vòng bức bách ấy. Sự cay nghiệt của tạo hóa đã giết chết con người hồi nào không hay:
“Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi.” (câu 73 - 74)
Trẻ tạo hóa: bởi chữ tạo hóa tiểu nhi, trẻ nhỏ tạo hóa, đây là lời nói bỡn gọi ông trời bằng trẻ con; nó xuất phát từ điển tích ông Đỗ Thẩm Ngôn đời Đường, khi đau nặng, bọn ông Tống Chi Vấn vào thăm, Đỗ Thẩm Ngôn nói rằng: “Ngao ngán thay trẻ tạo hóa làm ta nên khổ sở thế này…”[6] Chết đuối người trên cạn: bởi chữ Lục-trầm. Lục là trên cạn. Trầm là chìm đắm, Trang tử nói: “Không thèm đi chung với đường đời gọi là chết đắm trên cạn”. Ở đây có nghĩa là không hạp với tình đời.[7]
Phải chăng, tạo hóa khéo sắp đặt cho những con người “tài hoa bạc mệnh” Ông Như Hầu đã cảm thương cho thân phận tài hoa mà phận bạc của người cung nữ. Ông cảm thương cho người cung nữ cũng chính là sự cảm thương mình vì Nguyễn Gia Thiều cũng là một người tài hoa nhưng số phận của ông cũng gặp phải sự cay nghiệt của tạo hóa. Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng ai oán không kém: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Đâu phải Nguyễn Du chỉ có thương cảm cho nàng Kiều mà còn thương cho chính Nguyễn Du nữa để “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa”. Ông cũng đau đớn chua chát cho thân phận con người đâu thua kém gì Nguyễn Gia Thiều khi sống trong chế độ phong kiến ở thế kỷ XVIII. Sự chà đạp con người của xã hội phong kiến cùng với sự khắc khe của tạo hóa đã làm cho con người tê tái cả cõi lòng.
Đâu chỉ có “sanh là khổ” mà trong suốt cuộc đời từ lúc trẻ cho đến lúc tuổi già con người luôn đối diện với những bức bách, những nỗi sợ hãi về cuộc sống, đã bao lần lâm vào những cảnh sống dỡ, chết dỡ, đói nghèo hoành hành, tai nạn kinh khiếp:
"Trắng răng đến thuở bạc đầu,
Tử, sinh, kinh, cụ, làm nau mấy lần." (câu 59 - 60)
Đường đời còn chồng chất nhiều nỗi đắng cay cùng với bệnh tật đã hành hạ thân xác lẫn tinh thân của con người. Sự thống khổ của bệnh tật đã cắt đứt tim gan, đốt ruột, cắt da con người hằng ngày hằng giờ trong đau đớn:
“Bệnh trần đòi đoạn tâm can,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.” (câu 63 - 64)
Với hình ảnh “lửa” trong câu thơ này, Nguyễn Gia Thiều đã dựa vào tư tưởng của kinh Pháp Hoa để nói về nỗi khổ của chúng sanh bị thuê đốt trong nhà lửa của tam giới: “Tam giới bất an, do như hỏa trạch”. Ở đây, ông miêu tả sự bức bách của người cung nữ khi sống trong sự tù túng của cung cấm giống như bị thiêu đốt trong nhà lửa. Tuy nhiên sự bức bách thật sự trong tác phẩm này hàm ý nói lên nỗi khổ tâm của tác giả khi sống trong chế độ phong kiến đầy dãy những điều “chướng tay gai mắt”. Chính vì sự chán ngán đó đã làm cho con người thêm mệt mỏi. Khi mùi đời chỉ toàn là hương vị đắng cay thì còn có gì vui đâu để mà bám víu:
“Mùi tục lụy dường kia cay đắng,
Vui chi mà đeo đẳng trần duyên.” (câu 105 - 106)
Sống trong cuộc đời với hàng nghìn cảnh va chạm của công việc, của các mối quan hệ với xã hội, gia đình, dòng tộc, hàng trăm lần bị sứt mẻ thân thể lẫn tâm lý đã làm tin gan con người se thắt lại. Có khi muốn chết cho mau nhưng nào được như vậy. Khổ sở nhất là trong cảnh sống không được mà chết không xong mà cứ phải chịu đựng những nỗi đau dày vò dằn xé:
“Đòi những kẻ thiên ma bách chiếtHình thì còn bụng chết đòi mau !” (câu 53 - 54)
Không chết được, vậy thì phải sống. Còn sống thì phải còn tất bật với cuộc mưu sinh. Trong cuộc mưu sinh đó con người phải toan tính và chạy theo cái vinh hoa phú quý có khi đánh mất mình hồi nào không hay. Thật ra có ai biết đủ để mà dừng lại. Chính vì sự ham muốn danh vọng mà con người đã rượt đuổi nó như một chiếc bóng. Nguyễn Gia Thiều đã phê phán hóa sự phú quý là “mồi phú quý”. Phú quý ở đây chỉ là miếng mồi dành để câu những con cá mà thôi. Con cá nào đớp được mồi tưởng đâu có được một bửa ăn no ai ngờ lại mắc phải cái lưỡi câu thì thật là khốn khổ. Còn vinh hoa thì ông lại gọi là “bả vinh hoa”. Bả ở đây là một thứ bỏ đi khi ai đó đã hưởng hết những phần tinh túy rồi. Cái mà người này bỏ người khác đi tìm thì đâu có giá trị gì nữa. Đã chán chê rồi cho nên mới bỏ và cái bỏ ấy chỉ còn là cái bả mà thôi. Vậy mà cái “bã vinh hoa” ấy biết bao nhiêu người tranh giành nhưng rốt cuộc chỉ là một trò lừa bịp của tạo hóa:
“Mồi phú quý dữ làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gả công khanh.” (câu 81 - 82)
Dẫu biết là trò lừa bịp của tạo hóa nhưng con người cứ mãi mê muội không nhận ra, cứ chạy đua theo nó đến nỗi “gót chân lấm bùn” (câu 70), “tóc rụng gần hết” mới nhận ra mình chẳng được gì. Kẻ mưu cầu được thì lại tham lam muốn hơn thế nữa, còn kẻ mưu cầu không được lại đau khổ khóc than. Đây chính là “cầu bất đắc khổ” mà Đức Phật đã nói trong Khổ Đế và được Nguyễn Gia Thiều áp dụng vào tác phẩm của mình.
Tất cả nỗi khổ của người cung nữ cũng bắt nguồn từ chữ ái mà ra. Chính tình yêu đã làm cho người cung nữ bị ràng buột. Trong giáo lý Thập nhị Nhân duyên thì chi “ái” là một trong những chi khó đoạn nhất. Trong kinh Đoạn tận ái, Phật dạy: Nếu đoạn tận ái dục thì tất cả các chi khác cũng sẽ bị đoạn tận. Nếu đoạn tận các chi trong Thập nhị Nhân duyên con người sẽ được giải thoát. Giải thoát cũng có nghĩa là con người chấm dứt mọi khổ đau. Người cung nữ đã vướng phải lưới tình cho nên mới sinh ra những phiền não:
“Ngẫm nhân sự cớ gì ra thế,
Sợi xích thằng chi để vướng chân,
Vắt tay nằm nghĩ cơ trần,
Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa dương.” (câu 45 đến 48)
Sợi xích thằng là sợi dây đỏ hay còn gọi là dây tơ hồng. Điển này xuất phát từ của tích của Vy Cố đời Đường ở Tống-đô, đêm đi chơi mát, gặp ông già ngồi xem sách ở dưới trăng, bên có cái đãy đựng tơ đỏ (xích thằng) hỏi ông đáp rằng: Quyển sổ này chép tên tuổi, đãy đựng sợi tơ đỏ để buộc duyên phận vợ chồng người. Những người đã ghi tên vào sổ này, dù người thù hoặc ở nước khác cũng vầy nên chồng vợ. Ông này không có tên, ông xem sách dưới trăng nên gọi Nguyệt lão có nghĩa là ông già dưới trăng, hoặc có khi gọi là “Trăng già" hàm ý là Nguyệt lão. Chính dây tơ hồng của Nguyệt lão đã cột chân của người cung nữ đã làm cho nàng vướng chân không thể thoát khỏi cái vòng lẫn quẩn đến nỗi nàng muốn cần đến giọt nước cành dương của Bồ tát Quan Thế Âm làm nguội lữa ái dục trong lòng nàng để nàng được thanh thản.
Nước dương: bởi chữ Dương chi tịnh thủy, giọt nước nơi cành dương liễu. Sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: có vị tăng tên Phật Đồ Trừng người nước Thiên Trúc một hôm ông Thạch Lặc mời đến nhà chơi, vừa có đứa con đau bệnh nặng. Phật Đồ Trừng lấy cành dương liễu tẩm nước phép rảy cho đứa bé đau, liền lành khỏi. Phép ấy của Phật Quan Âm có bình ngọc cắm cành dương liễu trong bình có những giọt nước làm cho chúng sanh mát dịu như có phép mầu.
Phải nói rằng nguyên nhân của người cung nữ cũng bắt nguồn từ chữ “ái” mà ra và chính nó đã làm nên biết bao nhiêu phiền muộn, bức bách. Triết lý hư vô trong Cung oán ngâm khúc khi cuộc đời là bể khổ đã in đậm trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều toát lên tư tưởng nhân đạo cảm thương cho thân phận con người qua lời oán than của người cung nữ. Ông tiếp thu khá rõ chân lý Khổ Đế của Đức Phật, tuy nhiên ông chưa tiếp thu ba chân lý khác là Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế nên màu sắc của tác phẩm mang một màu tối và tư tưởng của tác phẩm là sự yếm thế, không lối thoát.
2.2. Quan điểm về duyên sinh, vô thường và vô vi trong Cung oán ngâm khúc
Chính vì ngán cái “tạo hóa” trớ trêu mà ông cho rằng muôn vật ở đời chỉ là hư vô, hư trụ, do duyên sinh, duyên khởi của vạn pháp mà tồn tại. Người viết tạm dùng hai từ “tạo hóa” để nói về một sự sắp đặt sẵn của mọi sự vật hiện tượng và luôn cả kiếp người. Con người tin có một đấng “bề trên” nào đó sắp đặt cuộc sống của con người và chi phối cả vũ trụ. Nguyễn Gia Thiều cũng tin như thế, nhưng ông còn am tường hơn khi đem giáo lý duyên khởi của đạo Phật để giải thích cho sự tồn tại của vạn pháp nói chung và của con người nói riêng. Con người đã tồn tại trên cõi đời này theo nhân duyên hòa hợp mà thành thì vũ trụ nơi mà con người hiện hữu cũng do nhân duyên mà sinh diệt. Nhưng dù con người có tồn tại trong vũ trụ này cũng chỉ là sự ê chề, bi thương vì bị luật vô thường chi phối. Sự sanh diệt của con người sớm muộn gì cũng bị tan hoại bởi luật vô thường. Còn mọi sự vật hiện tượng trên cõi đời này cũng chỉ là giả hợp không thật có:
“Tiêu điều nhân sự đã xong,
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.” (câu 95 - 96)
Như vậy, có gì đâu để đáng tự hào, để đáng vui trong kiếp sống phù sinh này chứ. Đó là sự bi đát nhất của vạn pháp mà con người cũng chỉ là một trong những hạt cát của sa mạc vạn pháp đó mà thôi cho nên phải chịu chung số phận sinh diệt, vô thường này. Tư tưởng này xuất phát từ Phật giáo và của Lão Trang mà Nguyễn Gia Thiều chỉ là người tiếp thu nó. Nguyễn Gia Thiều đã tiếp thu chân lý đầu tiên của đạo Phật là Khổ Đế, thuyết vô thường, thuyết duyên khởi để nâng cao nó thành tư tưởng của tác phẩm. Bên cạnh đó, ông còn tiếp thu triết lý vô vi trong Đạo Đức kinh của Lão Trang để nâng cao thành triết lý sống của mình.
Triết lý vô thường của đạo Phật và thuyết vô vi của Lão Trang trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc đã vẽ cho cuộc đời một bức tranh tang thương của kiếp người chăng? Không phải thế, hai triết lý này mô tả một cách hiện thực bản chất của vạn pháp là duyên sinh duyên khởi. Có sinh ắt có diệt đó là chân lý hiển nhiên và con người phải biết chấp nhận nó để mà sống, để mà khỏi đau khổ thêm nữa.
Trong câu 76, ông viết: “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương", vân cẩu: là mây chó, ý này được lấy trong thơ của Đỗ Phủ:
“Thiên thượng phù vân như bạch y,
Tu tư hốt biến vi thương cẩu.”
(Trên trời đám mây nổi như cái áo trắng,
Bỗng chốc hóa hình con chó xám.)
Ý nói sự biến chuyển nhanh chóng của mây. Về sau đem ví sự thay-đổi trên đời. Tang thương: tang là cây dâu, nương trồng dâu, thương là bể khơi, bãi bể. Sách Liệt Tiên truyện chép: Bà Ma-cô tiên-nữ đã nói bà từng thấy một nơi kia đám nương trồng dâu đã ba lần hóa thành bể khơi, bãi bể. Ý nói sự thay đổi nơi trần thế nhiều lần. Tang thương hay còn gọi Tang-hải-Tang-thương- Bãi bể nương dâu- Bể dâu, đều là một nghĩa.[8] Sự thay đổi biến thiên của một con người giống như nhìn một đám mây nỗi như áo trăng bỗng chốc lại hóa thành hình con chó. Biển xanh còn biến thành nương dâu thì thân người có xá gì. Theo Nguyễn Gia Thiều thời gian của một kiếp người thoáng mất qua cửa sổ: "Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi" (câu 353) còn Trịnh Công Sơn trong ca khúc Tình xa lại cho rằng: “Ôi tiếng buồn rơi đều nhìn lại mình đời đã xanh rêu”. Thật vậy cuộc sống con người thật ngắn ngủi nhưng con người đâu ý thức được đều đó. Chính không ý thức nên đã để thời gian trôi qua rất nhanh đến khi nhìn lại thì tóc trên đầu đã điểm bạc. Con người lúc nào cũng nghĩ rằng sự tồn tịa của một kiếp người là rất lâu nên nhạc sĩ Y Vân mới viết ca khúc Sáu mươi năm cuộc đời. Nhưng đối với đạo Phật thì kiếp sống của con người chỉ tồn tại trong từng hơi thở. Ở điểm này Nguyễn Gia Thiều thừa tự được tư tưởng của đạo Phật nhận biết thời gian như bóng câu qua cửa sổ rồi cuối cùng chẳng được gì ngoài nấm mồ cỏ mọc xanh rì:
“Tuồng ảo hóa huyễn bày ra đấy,
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.” (câu 103 - 104)
Vẫn biết cuộc đời là bể khổ, là bến mê, tất cả hạnh phúc trên đời chỉ là phù hoa ảo ảnh sẽ chìm đám vỡ tan như bọt bèo trong vũ trụ. Nguyễn Gia Thiều đã ví cuộc đời này là vỡ “tuồng” mà vỡ “tuồng” thì làm gì mà có thật cho nên nó mới là “tuồng ảo hóa”. Nếu cuộc đời này là vỡ tuồng thì con người là những diễn viên trong vỡ tuồng đó được sự sắp đặt của đạo diễn “tạo hóa” chứ không phải làm theo ý của mình. Đáng buồn nhất là con người giống như một con rối trong vỡ “tuồng ảo hóa” này bị người khác giật dây. Có vui hay có buồn gì đi chăng nữa cũng phải cố gắng đóng cho tròn vai diễn chứ không được quyền quyết định hay cải lại. Ngẫm nghĩ lại kiếp người mà thấy đau lòng khi nhìn lại trăm năm đi qua của một kiếp người cuối cùng chỉ là một nắm mộ bên nghĩa địa buồn mà thôi. Ý thơ này của Nguyễn Gia Thiều giống với tư tưởng của Nguyễn Du trong hai câu đầu của tác phẩm Truyện Kiều:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Có sống qua gần hết một kiếp người thì cuối cùng nhìn lại chỉ là sự chán chường đau đớn. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã gặp Nguyễn Du cùng một quan điểm. Dù có sống đến trăm năm thì chỉ là trò bể dâu mà thôi. Nguyễn Gia Thiều đã miêu tả tâm trạng khổ sở cùng cực của người cung nữ khi bị dày vò trong cung cấm. Thông qua những hình dung từ: ảo, hư, tiêu điều, đau, tang thương cũng đủ nói lên tâm trạng quặn thắt của người cũng nữ trong chốn thâm cung.
Nguyễn Gia Thiều còn xem cuộc đời này chỉ là giấc mộng: "Kìa thế tục như in giấc mộng" (câu 49). Những vần thơ trong Cung oán ngâm khúc được xem khoảng thời gian hưởng niềm vui thoáng đến rồi chợt đi giống như một giấc mộng. Những điển này được dựa vào tích của Tô Đông Pha, Trang Chu, Lý Công Tá (bài Ký Nam Kha Mộng). Ngay cả trong tình yêu cũng được ví như giấc “mộng xuân” ngắn ngủi mà một khi mất đi con người ta dù có ngàn vàng cũng không thể nào mau lại được:
“Dẫu mà ai có nghìn vàng
Đố ai mua lấy được một tràng mộng xuân” (câu 175 - 176)
Cho đến khi đêm nằm ngủ trong chiêm bao thấy hồn mình thành bướm nhởn nhơ đó đây, nhưng khi tỉnh giấc thấy mình vẫn là con người nên lòng còn tiếc nuối ngẫn ngơ:
“Khi bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ” (câu 218)
Mọi sự vật sự việc, mọi hiện tượng ở đời cũng chỉ là một giấc mộng Nam Kha huyễn hóa và vô tình mà thôi:
“Giấc Nam Kha khéo bất tình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không" (câu 83 - 84)
.“Giấc mộng Nam Kha”, có nguồn gốc từ cuốn tiểu thuyết “Tiểu sử Nam Kha Thái Thú” của tác giả Lý Công Tá đời Đường Trung Quốc thế kỷ 9 công nguyên. Kể về chuyện của Thuần Vu Phân, nhân ngày sinh nhật của ông, người thân và bạn bè đều đến chúc thọ, ông vui mừng quá, và uống nhiều chén rượu. Sau khi người thân và bạn bè về nhà, ông ngà ngà say hóng mát dưới cây hòe, bát giác ngủ quên.
Trong giấc mơ, ông mơ thấy mình đi thi rồi đậu trạng nguyên và được vua gã công chúa cho ông. Sau đó không lâu ông được nhà vua cử đến quận Nam Kha làm thái thú. Ông cố gắng làm việc và quý mến nhân dân nên được nhân dân hết lòng khen ngợi. Ba mươi năm trôi qua, thành tích của ông đã nổi tiếng khắp toàn quốc, và ông đã có bảy con, năm trai hai gái, cuộc sống rất hạnh phúc. Nhà vua mấy lần muốn điều động ông về kinh thành đảm nhiệm chức vụ cao hơn, nhưng người dân không cho.
Khi nước Thiên La đem quân xâm lược nước Đại Hòe, nước Đại Hòe bị thua trận nhiều lần. Các quan trong triều tiến cử Thuấn Vu Phân, thái thú quận Nam Kha có thành tích công tác xuất săc, bèn giới thiệu với nhà vua. Nhận mệnh lệnh của vua, ông dẫn quân xuất chinh nhưng vì không biết phép dùng binh nên quân của ông đã bị thua và xuýt nữa ông bị bắt. Được tin này, nhà vua hết sức thất vọng, ra lệnh truất bỏ mọi chức vụ của ông, giáng xuống làm bình dân, và đưa về quê. Thuấn Vu Phân nghĩ tên tuổi anh hùng của mình bị phá hủy hoàn toàn, hết sức xấu hổ và tức giận, kêu một tiếng thật to, ông tỉnh dậy từ giấc mơ. Ông theo cõi mộng đi tìm nước Đại Hoè, hóa ra dưới cây hòe có một lỗ con kiến và có những kiến đang cư trú ở đó. Nghĩ đến tích này mọi người gọi là “giấc mộng Nam Kha” hay còn gọi là “giấc hòe”.[1]
“Giấc mộng Nam Kha” được con người ví như là một giấc mơ về vinh hoa phú quý, nó chỉ là huyễn hóa không thật, khi tỉnh giấc mơ thì hiện thực vẫn trở về. Ở đây người viết đưa ra quan điểm: “Giấc mơ là có thật nhưng những điều trong giấc mơ chỉ là hư ảo.” Thế mới hay trò đời dâu bể khéo sắp bày và cuộc đời chỉ là một giấc mộng vô thương, hư vọng.
[1] Câu chuyện Giấc mộng Nam Kha, http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter16/chapter160413.htm
3. Quan điểm về tiền định, nghiệp báo, luân hồi
Nguyễn Gia Thiều cho rằng đời là tạm bợ nên phải ung dung tự tại để sống nhiều khi còn muốn tu hành thoát tục. Những điều này được thể hiện trong thơ ông nhưng chưa đạt rốt ráo của sự giải thoát. Ông muốn thoát khỏi chế độ xã hội bất công đã khinh thường và áp bức con người đến mức nghẹt thở cũng như người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc đã muốn phá tan cung cấm giam hãm mình bấy lâu nay để trở về sống đời “cục mịch nhà quê” mà không được. Điều này cho thấy làm người thật khó, không phải muốn gì cũng được. Ấy phải chăng đó là sự sắp đặt của “tiền định” mà con người không thể can dự vào:
“Vẻ chi ăn uống sự thường
Cũng còn tiền định khá thương lọ là.” (câu 51 - 52)
Theo Vũ Ngọc Khánh thì ý này lấy từ sách Mạnh Tử : “Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định” (một cái uống một cái ăn đều được định trước).[10] Những việc nhỏ như cái ăn cái uống mà còn được tạo hóa sắp đặt sẵn huống chi là những việc liên quan đến vận mệnh của con người. Con người không thể cưỡng lại nỗi mà đành cam chịu số phận khắc nghiệt do tạo hóa đã định trước.
Đó là tâm trạng bế tắc của Nguyễn Gia Thiều hay là sự bế tắc của cả xã hội phong kiến thế kỷ XVIII. Xã hội bế tắc là do con người hay do “tiền định”? “Một câu hỏi lớn không có lời giải đáp, cho đến bây giờ mặt vẫn chau.” Chính nhà thơ Huy Cận trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương đã nói như thế. Mọi sự bế tắc của kiếp người in hằn trên thể xác lẫn tâm hồn của các vị La Hán. Chính cha ông ta đã đem những tâm sự u uẩn, bế tắc ấy vào trong những tác phẩm của mình. Các vị La Hán đã dứt hết các phiền não rồi nhưng không ngờ khi thấy cảnh đời cơ cực của chúng sanh mà “các vị đau theo lòng chúng nhân”. Nhìn thấy cảnh đời cay nghiệt mà chế độ phong kiến đem lại cho con người thì “tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng viết:
“Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ,
Văn chiêu hồn từng thắm giọt mưa rơi.”
Theo ý của người viết nghĩa rằng “tiền định” còn hàm nghĩa là “nghiệp”. Đây là một quan điểm của đạo Phật. Do nhân của tiền kiếp của người cung nữ đã gieo cho nên ngày nay gánh quả báo là phải chịu tất cả những đau khổ. Do nghiệp của thân, khẩu, ý tạo tác mà ngày nay người cung nữ khó có thể mà thoát được dù có muốn thoát hay không. Chính cái nghiệp này đã trói buột cuộc sống của con người, nếu con người có vùng vẫy cũng không thể thoát nên đành phải chấp nhận nó mà thôi. Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Chính vì sự bế tắc không thể thoát ra khỏi cái nghiệp đã định sẵn mà Nguyễn Gia Thiều muốn tìm đến sự tu hành. Một mặt ông muốn tìm đến của Phật để mong dứt hẳn mối thất tình vây hãm con người:
“Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật,
Mối thất tình quyết dứt cho xong.” (câu 109 – 110)
Thất tình: là bảy thứ tình của con người gồm: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục: mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét và ham muốn, là con người ai ai cũng có bảy thứ tình này đã làm cho con người đau khổ, trầm luân. Ông muốn tìm đến cửa Phật để “mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”. Hoa đàm: bởi chữ Ưu-đàm-hoa là một hoa thiêng-liêng của nhà Phật, ba nghìn năm mới có một lần nở hoa, mỗi khi có hoa tức có Phật ra đời.[11] Ông muốn mình như hoa đàm không vướng bận một chút ưu phiền nào. Đuốc tuệ: bởi chữ Tuệ hỏa, tiếng nhà Phật nói: ngọn lửa trí tuệ để đem chúng sinh ra khỏi nơi chướng ngại khổ sở. Ông muốn dùng đuốc tuệ để soi đường dẫn lối ông thoát khỏi sự bế tắc của cõi đời này. Nói cách khác là ông muốn tìm đến với đạo Phật để tu hành với tiêu chí “duy tuệ thị nghiệp” nghĩa là lấy trí tuệ làm sự nghiệp để mà giải thoát.
Nguyễn Gia Thiều không chỉ tu theo Phật mà ông còn muốn tu theo đạo Lão nữa Ông muốn: “Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa” để quên đi những nỗi phiền muộn của cuộc đời. Ông muốn tiêu dao vui thú với thiên nhiên cho quên đi những tháng ngày u uất.
“Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.”(câu 113 - 116)
Ông muốn thoát khỏi cái thân uế trượt này siêu thăng như tiên để được tiêu dao không phải lo toan với những ưu tư phiền muộn. Nhưng không phải ai muốn đi tu là cũng tu được đâu? Ôn Như Hầu còn cảm thấy trên con người còn có một sức mạnh thần bí nào đó chi phối kiếp người mà con người tự mình không thể hiểu thấu trong hai câu thơ:
“Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.” (câu 91 - 92)
Theo Vũ Ngọc Khánh chỉ có “ba chữ “cái quay búng” mà mỗi người hiểu một các khác nhau. Giáo sư Nguyễn Huy Bảo trong cuốn sách “Nhân bản Thiên Chúa Giáo” (trang 76 và 24) giảng “cái quay búng” trong Cung Oán Ngâm Khúc là Trời (viết chữ hoa). Giáo sư Tôn Thất Lương lại giảng “cái quay” là luân hồi của Đạo Phật”. Còn trong Chú giải Cung oán ngâm khúc thì cho biết: “Cái quay: bởi chữ Luân hồi, bánh xe quay, là cái máy quay của tạo hóa; nhà Phật nói: chúng-sinh ở trong thế giới, từ khi đầu tiên đến nay cứ bị quay xoay vần trong lục đạo hết kiếp này đến kiếp kia mãi, như cái bánh xe quay mãi không thôi. Chỉ có kẻ tu hành đắc đạo mới thoát khỏi luân-hồi ấy.”
Chỉ có ba chữ thôi mà có nhiều cách hiểu khác nhau. Cũng theo Vũ Ngọc Khánh: “Nếu chỉ có ba chữ “cái quay búng” thôi, có thể hiểu là sự “may rủi”. Nếu thêm chữ “sẵn” thành “cái quay búng sẵn”, có thể là “tiền định”. Nếu lại thêm hai chữ “trên trời” cái tiền định này ở ngoài tầm con người không phải ở dưới trần nhưng ở trên trời. “Cái quay búng sẵn trên trời” chi phối ra sao? Trí người không ai thấu hiểu chỉ thấy “mờ mờ nhân ảnh”. Con người mò mẫm tìm ngược xuôi trong bóng tối “như người đi đêm” không biết đi về đâu. “Máy huyền vi mở đóng khôn lường”[12]
Người cung nữ muốn trở lại với cảnh đời được sủng ái như ngày xưa không được mà muốn thoát ra để trở về với cảnh đời “cục mịch nhà quê” cũng không xong. Đây chính là quan niệm sống của Nguyễn Gia Thiều muốn vứt bỏ đi tất cả nhưng lửa duyên lại chưa dứt được còn muốn tu hành nhưng nghiệp quả lại không cho. Chính vì vậy mà ông ngán ngẫm nên không mong muốn gì thế sự nữa:­
“Đa mang chi kiếp đèo bồng,
Vui gì thế sự mà mong nhân tình.” (câu 111 – 112)
Đây không chỉ là tư tưởng của Nguyễn Gia Thiều mà là của một lớp người trí thức bấy giờ. Xã hội rối ren không còn kỷ cương, một tâm trạng bế tắc trước xã hội như thế con người ta muốn thoát khỏi nhưng không thể, để thấy xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII là một xã hội bế tắc khiến con người muốn vùng vẩy ra khỏi mà không được. Dù có thương cảm cho kiếp người hay có oán than cho xã hội thì Nguyễn Gia Thiều cũng giữ một tấm lòng trung với vua giống như người cung nữ oán trách vua khi bị ruồng bỏ nhưng khi ước ao trở lại cảnh ái ân với vua như ngày nào không được thì nàng vẫn phải giữ lòng trung trinh:
“Phòng khi động đến cửu trùng
Giữ sao cho được má hồng như xưa.” (câu 355 – 356)
Đây là quan niệm về “chữ Trung” của Khổng Tử trong “Trung quân ái quốc” dù nhà vua có gì đi chăng nữa thì phận làm bầy tôi phải giữ lòng trung “Quân xử thần tử thành bất tử bất trung”. Nàng cung nữ dù có oán trách vua nhưng cuối cùng vẫn giữ một tấm lòng trung trinh ở đây nàng cung nữ đã nói thay cho Nguyễn Gia Thiều một nhà luôn đặt trên mình ba chữ “quân, sư, phụ” cho nên phải tận trung với vua. Nếu không trung với vua thì không là người yêu nước, chính vì vậy mà các nhà Nho rất xem trọng điều này. Hai câu thơ này la hai câu kết của tác phẩm hàm ý rằng dù xã hội có thế nào đi nữa thì con người cũng phải tôn trọng những giá trị lễ nghi của cuộc đời. Như nàng cung nữ dù có oán trách vua nhưng vẫn giữ một lòng trinh bạch cũng như Nguyễn Gia Thiều dù có bức xúc với xã hội đương thời những vẫn giữ lễ nghĩa của một người tri thức.
3. Giá trị nghệ thuật của Cung oán ngâm khúc
Với thể thơ song thất lục bát đã làm cho nhạc điệu của bài thơ là một bản tình ca đầy âm sắc. Với vần trắc của câu thất thứ nhất đã tạo nên một cảm giác rất gay gắt cho người đọc và người nghe. Nhưng câu thất thứ hai với vần bằng đã tạo sự nhẹ nhàng trở lại. Cho đến hai câu lục bát với vần bằng đã tạo nên một cảm giác trầm lắng xuống. Đây là nét độc đáo của bài thơ khi đọc đến hai câu lục bát có sự chùng xuống giống như những nốt trầm của một bài ca buồn. Theo người viết cảm nhận một khổ thơ bốn câu song thất – lục bát trong bài thơ này ẩn chứ nhiều cung bậc của cảm xúc. Câu thất thứ nhất nói lên sự ai oán, nỗi khát khao đến cháy lòng, câu thất thứ hai dịu hơn một chút vì sự ai oán và nỗi khao khát đã nguội dần, cho đến hai câu lục bát thì chùng hẳn vì biết rằng có mong đợi có ước ao cũng chỉ là tuyệt vọng mà thôi. Vần điệu song thất lục bát được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, phép đối ngẫu được tôn trọng một cách chặt chẽ. Chính vì vậy mà Cung oán ngâm khúc từ khi phôi thai cho đến khi hình thành là dùng để ngâm nga chứ không phải để đọc.
Cung oán ngâm khúc rất chặt chẽ về mặt cấu trúc cũng như sắc sảo về ngôn từ. Ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc hết sức tài hoa, chuẩn xác, dùng nhiều chữ Hán và điển tích, điển cố như: gió vàng hiu hắt, lạnh ngắt như đồng, thân phù thế, mùi tục luỵ, mồi phú quý, bả vinh hoa, cánh buồm bể hoạn, hoa chúm chím chào, cợt đào ghẹt mai, thánh thót cung đàn, nỉ non tiếng địch, gay gắt điệu, tê tái lòng, má đào chon chót, âm thầm chiếc bóng, hồn bướm vẩn vơ, dế ran ri rỉ, quyên kêu ra rả... Câu thơ trong Cung oán ngâm khúc được trau chuốt đến mức tuyệt hảo mà không có từ ngữ nào có thể thay thế được. Nó giống như một tác phẩm điêu khắc đòi hỏi sự tinh xảo và tỉ mỹ đến từng chi tiếc mà người nghệ nhân phải rất tài hòa mới thực hiện được.
Những danh từ được dùng như: bể khổ, bến mê, nước dương, bào ảnh, thất tình, hoa đàm, đuốc tuệ, tiền nhân, hậu quả... đều là những điển trong các Kinh Phật như Kinh Kim Cương, Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Truyền Đăng Lục... bên cạnh những từ ngữ của Lão giáo như: gió mát trăng thanh, thoát trần, cái thân ngoại vật, tiên,… đã làm cho tác phẩm khá phong phú về nghệ thuật.
Trong Cung oán ngân khúc, không gian chủ yếu là cảnh bưng bít của chốn tiêu phòng lạnh lẽo cùng thời gian chủ yếu là bóng đêm và mùa thu với sự hồi ức đã tạo nên một bức tranh vô cùng đen tối, ảm đạm, buồn bả. Thông qua những hình dung từ về xúc giác, thị giác được chọn lọc một cách chính xác làm cho người đọc có nhiều sự tưởng tượng khác nhau. Hơn thế nữa, tác phẩm còn gây ấn tượng cho người đọc bằng giọng văn réo rắt làm bật lên tâm trạng não nùng, ai oán của nhân vật trong khúc ngâm một cách tài tình.

KẾT LUẬN
Cung oán ngâm khúc là khát vọng muốn đạp đổ tất cả những áp bức bất công của chế độ phong kiến của cung nữ biểu hiện tinh thần phản kháng, căm hận tột cùng của con người trước thực tại buồn đau để có được sự tự do hạnh phúc. Nàng cung nữ mong muốn có được tình yêu thương giống như bao người phụ nữ bình thường khác. Đó là một lý do chính đáng mà bất cứ một người phụ nữ nào cũng ước mơ. Nhưng đối với nàng là một điều không thể với tới. Cung oán ngâm khúc còn phê phán quan niệm “trọng nam kinh nữ” thông qua việc đa thê của vua quan phong kiến đã biến phụ nữ thành đồ chơi rồi ruồng không thương tiếc.
Qua tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Ôn Như Hầu đã dùng lời than oán của người cung nữ để bày tỏ tâm sự của một kẻ sĩ đã nhìn thấy cuộc đời đầy tang thương biến đổi với những thăng trầm mà chính ông là người đã sống trong thời đại lịch sử ấy. Tâm sự của Nguyễn Gia Thiều là tấm bi kịch tiềm tàng những mâu thuẫn nghiệt ngã đến nối ông muốn thoát khỏi sự bức bách đó để sống một cuộc đời siêu phàm thoát tục. Tâm sự của ông cũng chính là tâm sự của bao người trong xã hội đương thời khát khao có được một cuộc sống bình yên. Nhưng xã hội lại bế tắc làm cho bao nhiêu người đau khổ đến nỗi nhân phẩm con người bị chà đạp đến đau lòng. Ước mơ được yêu được sống tự do được hạnh phúc là ước mơ chung của tất cả mọi người nhưng đối với người cung nữ điều đó thật xa vời. Ôn Như Hầu cảm thương cho thân phận người cung nữ cũng như là cảm thương cho thân phận của bao nhiêu người phụ nữ khác và cũng chính là thương cho thân phận mình. Đây là tư tưởng nhân đạo mà Nguyễn Gia Thiều đã gởi gấm qua tác phẩm.
Với những quan niệm của Phật giáo, Lão Trang, Khổng Tử, Mạnh Tử đã làm cho tác phẩm đa dạng về tư tưởng làm nỗi bật lên triết lý hư vô dẫu biết cuộc đời là bể khổ, là bến mê, tất cả những hạnh phúc chỉ là phù du ảo ảnh nhưng vẫn hy vọng một ngày mai tươi sáng. Dù ước mơ không trở thành hiện thực thì con người vẫn phải sống và sống với những khát vọng của mình. Sống sao cho đúng nghĩa để không phải bị tiếng đời mai mĩa và không phải ân hận khi chết đi. Giống như nàng cung nữ dù có oán trách vua ruồng bỏ mình nhưng vẫn giữ một tấm lòng trung trinh không thay đổi dù có sống trong cảnh cô đơn nơi hoàng cung. Cũng vậy Nguyễn Gia Thiều cũng giữ một lòng trung thành với vua cho dù chế độ phong kiến có nhiều điều bất cập. Đây cũng chính là quan niệm sống của Nguyễn Gia Thiều và cũng là quan niệm sống của tầng lớp tri thức phong kiến lúc bấy giờ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đăng Thục, Triết lý xuất thế và nhập thế trong thi ca Việt Nam, www.newvietart.com.
2. Trần Văn Thương, Chất dân gian trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, www.vanchuongviet.org
3. Trần Mạnh Hảo, Cần trả lại giá trị đích thực cho kiệt tác “Cung oán ngâm khúc”, www.phiem-dam.com
4. Nguyễn Trọng Trí, Đôi điều về Phật giáo trong văn học Việt Nam, www.phapluanonline.com
5. Vũ Gia Khánh, Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung oán ngâm khúc,
6. Vân Uyên, Quan niệm về trời trong Cung oán ngâm khúc, www.giaoxuvnparis.org
7. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.vi.wikipedia.org
8. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Cung oán ngâm khúc, www.vi.wikipedia.org



[1] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.wikipedia
[2] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Nguyễn Gia Thiều, www.wikipedia
[3] Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc
[4] Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241

[5] Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241
[6] Sđd
[7] Sđd
[8] Chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241

[9] Câu chuyện Giấc mộng Nam Kha, http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter16/chapter160413.htm
[10] Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc

[11] Lược điển chép trong Pháp Hoa Kinh, chú giải Cung oán ngâm khúc, NXB Tân Việt, http://tuoitrevnnet.com.invisionzone.com/index.php?showtopic=36241

[12] Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều – tác giả Cung oán ngâm khúc

Read more...

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

Ý nghĩa lễ Vu Lan

Danh từ Vu Lan là phiên âm chữ Phạn Ullambana, người Trung Hoa dịch là Giải Ðảo Huyền, có nghĩa là giải cứu tội khổ bị treo ngược. Người Trung Hoa còn gọi lễ nầy là VU LAN BỒN, chữ Bồn nghĩa là chậu, dùng để diễn nghĩa chậu đựng thức ăn dâng cúng. Vậy lễ Vu Lan hay Vu Lan Bồn có nghĩa là lễ dâng cúng thức ăn lên Tam Bảo để xin chú nguyện cho ông bà, cha mẹ những người quá cố trong bảy đời gọi là cữu huyền thất tổ, nếu ai đã làm điều tội lỗi ở trần gian, khi mãn phần bị đọa vào địa ngục, sẽ được nhờ ân đức Tam Bảo ra khỏi địa ngục, sanh về các cõi an lành khác.
Trong dân gian dựa vào đó, tin rằng ngày ấy có nhiều vong hồn được ra khỏi địa ngục, bao nhiêu ngày bị giam cầm trong địa ngục đã đói ăn, khát uống, với lòng từ bi người ta bày ra lễ vật cúng kiến cho các vong hồn ấy được ăn uống. Vì cúng thức ăn mặn, nên họ chỉ cúng từ ngày 16 trở đi cho đến hết tháng bảy.
Do đâu mà có lễ Vu Lan Bồn nầy ? Hồi Ðức Phật Thích Ca còn tại thế, có trên 1200 vị Tăng thường theo Phật để tu ( không kể trên 500 vị Ni ), trong đó có Ngài Mục Kiền Liên rất hiếu thảo nên còn được tôn xưng là Ðại hiếu Mục Kiền Liên, ngài có thần thông cao nhất, được xếp vào mười vị đệ tử tài ba hơn hết trong tất cả đệ tử của đức Phật.
Ngay sau khi ngài Mục Kiền Liên chứng được sáu phép thần thông: 1) Thấy mọi vật trong vũ trụ ( thiên nhãn thông ), 2) Nghe mọi thứ tiếng ở khắp nơi ( thiên nhĩ thông ), 3) Biết chuyện đời trước và đời nầy của mình cũng như của người ( Túc mạng thông ), 4) Biết trong lòng người khác đang nghĩ gì ( Tha tâm thông ), 5) Biết đi đến khắp nơi trong phút chốc và biến hóa chi cũng được hết ( thần túc thông ), 6) Trong sạch hoàn toàn, dứt hết các trìu mến, không còn chấp người, chấp ta ( Lậu tận thông ), nhớ đến mẹ, ngài dùng thiên nhãn thông tìm thấy mẹ sanh vào ngạ quỷ, không được ăn uống, ngài đem cơm dâng cho mẹ, bà Thanh Ðề lòng vẫn còn bủn xỉn, nên lấy tay trái che miệng bát, tay phải bốc cơm, nhưng cơm chưa đưa tới miệng thì đã phát sanh ra than lửa, bà ăn không được. Mục Kiền Liên trở về bạch với đức Phật mọi việc.
Ðức Phật dạy rằng, tội của bà Thanh Ðề quá nặng, Mục Kiền Liên không thể cứu được, muốn cứu mẹ, ông phải nhờ thần lực của mười phương chư Tăng mới giải thoát được, muốn được vậy phải làm như sau :
Ðến ngày Rằm tháng Bảy, là ngày Tự Tứ của chư Tăng, hãy vì ông bà cha mẹ bảy đời hay cha mẹ hiện tại, vì những người đang trong vòng tai nạn, sắm sửa nhiều thứ thức ăn, các thứ trái cây, hương đèn, vật trải giường nằm, thức ăn ngon nhất đặt vào trong BỒN, hiến cúng cho chư Tăng. Ngày ấy sự tu học của chư Tăng đã công thành quả mãn, chư Hiền Thánh Tăng ở mười phương tụ hội lại đồng nhất tâm thọ cơm Tự Tứ, vì có đầy đủ giới pháp thanh tịnh, nên đạo đức của họ thật vô bờ bến, ai hiến cúng thức ăn cho họ trong ngày nầy, thì cha mẹ cùng ông bà không còn khổ ách, người sống đương thời tăng thêm tuổi thọ, kẻ đã quá vãng được sanh vào các cõi an lạc.
Ðức Phật cũng dạy chư Tăng, đến ngày Tự Tứ phải đặt thức cúng trước tượng Phật, chú nguyện cho người cúng dường và thân thuộc bảy đời của họ trước khi thọ dụng.
Ðức Mục Kiền Liên vâng lời đức Phật dạy, đã làm y như thế, bà Thanh Ðề liền thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, được sanh lên cõi Trời. Ðức Mục Kiền Liên cũng hỏi thêm, về sau Phật tử có thể làm lễ Vu Lan Bồn hay không ?
Ðức Phật dạy rằng, ai muốn báo hiếu cha mẹ, đến ngày Rằm tháng Bảy đặt thức ăn ngon vào bồn, đem cúng thập phương tự tứ tăng chúng, để cầu nguyện, cha mẹ hiện tiền sẽ được sống lâu, không bệnh, không khổ còn cha mẹ, ông bà quá thế sẽ thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ được sanh vào nhân gian hay các cõi trời hưởng nhiều phước báu.
Chữ Tự Tứ có nghĩa là tùy ý, ngày Tự tứ là ngày mà chư Tăng dù có ở đâu để tu trong ba tháng, từ ngày Phật Ðản Rằm tháng Tư, đến ngày Rằm tháng Bảy, cũng phải tụ họp lại một nơi, cử ra một vị đọc giới luật, rồi tự các vị Tăng khai ra những giới nào đã phạm trong thời gian ba tháng tu, để sám hối những lỗi ấy, chư Tăng cũng tùy theo sự phạm giới nặng hay nhẹ mà định tội cho người phạm giới. Ngày nầy cũng còn gọi là Ngày hoan hỷ, vì chư Tăng hoan hỉ có ngày đọc giới luật, để tự mình sám hối, Phật tử hoan hỉ được cúng dường mười phương Tam Bảo để cầu nguyện, những người đã quá vãng được vui mừng ra khỏi chốn khổ đau của địa ngục.
Ðó là ý nghĩa về lễ VU LAN, một ngày lễ quan trọng của Phật Giáo. Xưa nay hàng năm trong Phật giáo có hai ngày lễ quan trọng; đó là lễ Phật Ðản và ngày lễ Vu Lan. Trong Kinh Nhật Tụng đã in từ trước có : Thời Công phu khuya, Phổ môn, Di Ðà, Kim Cang và Vu Lan.
Người Phật tử, vào ngày Rằm tháng bảy, đi chùa lễ Phật rất đông nhưng nếu hiểu cho đúng thì nên làm y theo lời Phật dạy, ngày ấy phải dâng cúng thức ăn thịnh soạn, nhang đèn, vật dụng cho chư Tăng để nhờ ân đức của các ngài cầu nguyện cho thân nhân được sống lâu, khỏe mạnh hoặc đã mất thì sẽ được thoát khỏi địa ngục, sanh về cõi khác hưởng nhiều phước báu. Hãy nhớ ơn đức Mục Kiền Liên, nhờ ngài hỏi nên Phật đã dạy, người Phật tử làm theo, do đó có biết bao nhiêu người đã được sinh về cõi an lạc.

Phúc Trung

Read more...

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Quan điểm hiếu hạnh của Mâu Tử trong tác phẩm Lý Hoặc Luận

DẪN NHẬP
Trong cuộc đấu tranh và phát triển đầy cam go gian khổ, nhưng cũng đầy hào hùng hoành tráng của dân tộc ta, mỗi khi lịch sử bước vào những giây phút thử thách gay gắt quyết liệt sống mái với kẻ thù, những khuôn mặt anh tài luôn luôn xuất hiện đứng ra gánh vác trách nhiệm, góp sức đưa con thuyền dân tộc đến bến vinh quang. Vào cuối thế kỷ thứ II, dân tộc ta đang đối đầu với viễn cảnh có thể vĩnh viễn bị đồng hóa vào nền văn hóa Trung Quốc, thì một khuôn mặt anh tài đã ra đời, đó là Mâu Tử cùng tác phẩm Lý hoặc luận nổi tiếng của ông.

Lý hoặc luận từng là một tác phẩm lý luận gối đầu giường của người Phật giáo ở Viễn Đông, mà cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản. Đối với lịch sử dân tộc ta, nó là một tác phẩm lý luận có một vị trí xung yếu. Từ những năm 1096, Thông Biện khi trình bày lai lịch của Phật giáo nước ta cho thái hậu Ỷ Lan, dẫn lời của Đàm Thiên, đã nói tới Mâu Bác và Khương Tăng Hội như hai đại biểu tôn giáo đầu tiên ở nước ta. Đến thời cận đại, thiền sư Pháp Chuyên (1726-1798) khi viết Tam bảo biện hoặc luận, tuy chủ yếu dựa vào Chiết nghi luận của Tử Thành, đã xa gần nói đến Mâu Tử. Đặc biệt đến đầu thế kỷ XX, khi Trần Văn Giáp giới thiệu về ông như một trong những nhà truyền bá đạo Phật đầu tiên ở Việt Nam, Mâu Tử trở nên quen thuộc không những đối với học giới, mà còn đối với bộ phận lớn người dân. Tuy nhiên, đó cũng là khởi điểm của vấn đề Mâu Tử.

Trong Lý Hoặc Luận của Mâu Tử có nhiều tư tưởng nhưng về tư tưởng hiếu đạo, ta biết có sự khác biệt cơ bản giữa tư tưởng hiếu đạo của người Việt Nam và hiếu đạo của người Trung Quốc. Phật giáo ngay từ khi du nhập vào nước ta, tự thân của nó đã hòa nhập với đạo lý truyền thống dân tộc và trở thành nếp sống đạo đức hướng thượng của người dân Việt Nam từ xưa cho đến nay. Trong đó hiếu hạnh được xem là hạnh đứng đầu trong muôn hạnh. Bởi vì Phật dạy “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”. Tuy nhiên, quan điểm hiếu hạnh xưa nay có nhiều kiến giải khác nhau. Quá trình giao lưu văn hóa giữa nước ta và Trung Hoa, Ấn Độ vào thời Phật giáo du nhập diễn ra liên tục. Vấn đề là các quan điểm hiếu hạnh của các hệ tư tưởng khác nhau khi vào nước ta, được cộng đồng người Việt tiếp biến như thế nào để thích ứng với nhãn quan, nếp sống trong truyền thống hiếu nghĩa của dân tộc. Chính vì vậy mà chúng tôi đã chọn đề tài: “Quan điểm hiếu hạnh của Mâu Tử trong tác phẩm Lý Hoặc luận”.

Trong phạm vi giới hạn của bài viết chỉ nói đến quan điểm của Mâu Tử trong tác phẩm Lý Hoặc Luận để thấy sự khác biệt giữa quan đểm hiếu hạnh của Nho giáo và Phật giáo như thế nào.

Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích những sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài.

Mong rằng với bài viết này sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy. Một trong những tác phẩm đầu tiên của Phật giáo tại Giao Châu lúc bấy giờ được một người Trung Hoa viết đó là Lý Hoặc Luận của Mâu Tử đã làm nên một dấu ấn lịch sử của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ đầu Phật giáo mới du nhập vào nước ta.

NỘI DUNG
1. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM LÝ HOẶC LUẬN
1.1. Đôi nét về Mâu Tử
Mâu Tử tên thật là Mâu Bác, người Hán, ở Thương Ngô vùng Lưỡng Quảng thuộc Trung Hoa. Ông là người đầu tiên của Trung Hoa viết về sách của đạo Phật. Tìm trong các sách sử, kể cả trong Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên không thấy đề cập đến Mâu Tử. Có thể sách sử lúc bấy giờ ít quan tâm tới vấn đề tôn giáo hoặc do những tài liệu ghi chép về Mâu Tử không nhiều cho nên không biết chính xác năm sinh và mất của Mâu Tử. Theo Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thác[1], Mâu Tử có thể sinh khoảng những năm 160-165 và viết Lý Hoặc Luận vào năm 198, vì rằng Mâu Tử có thể sống tiếp tới những năm 220 đến 230 và góp phần mình vào việc đào tạo những lớp người kế thừa mới, trong đó có Khương Tăng Hội và Đạo Hinh. [2]

Cũng theo Lê Mạnh Thác, có một số trích văn của Lý hoặc luận hiện còn tồn tại trong các tác phẩm khác và cho tập hợp lại ở cuối bản dịch cùng bản của Hoằng Minh tập, từ đó có biết phần nào bối cảnh chính trị, văn hóa và học thuật thời Lý hoặc luận xuất hiện. Các sách Tùy Chí và Ðường Chí đều có nói đến sách này của Mâu Tử. Riêng sách Tùy Chí lại còn chua thêm: "Hán thái úy Mâu Dung soạn". Sách này đã lầm thái úy Mâu Dung thời Chương đế (tự là Tử Ưu) với Mâu Tử thời Linh Ðế. Theo ông Pelliot có nói rõ về điểm này trong một bài đăng trong Toung Pao[3] về bài tựa của sách Lý Hoặc Luận dẫn lời của Mâu Tử cho rằng: “Mâu Tử tôi đối với kinh truyện và chư gia, sách lớn sách nhỏ không sách nào không mê. Tuy không thích binh pháp, nhưng cũng đọc sách binh pháp. Tuy đọc sách thần tiên bất tử nhưng không tin thần tiên bất tử, cho đó là chuyện hư đản. Sau khi vua Hán Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Châu là yên ổn, các bậc dị nhân phương Bắc đều tới đây, phần lớn đều tin theo thuật thần tiên tịch cốc trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử thường lấy ngũ kinh ta vấn nạn, các đạo gia và thuật sĩ không ai đối đáp cho xuôi được, cũng tỷ như Mạnh Kha cự lại với Dương Chu Mặc Ðịch. Trước kia Mâu Tử cùng mẹ tới tị nạn ở Giao Chỉ, năm 26 tuổi về quê Thương Ngô cưới vợ. Thái thú Sĩ Nhiếp nghe có chút học thức, tới mời nhận một chức vụ. Hồi đó tuổi vừa lớn, lòng chuyên về việc học, lại thấy đời loạn lạc không có ý muốn ra làm quan, cho nên tôi từ chối không đến.”. Theo lời của ông Pelliot, chúng ta có thể bác bỏ luận điểm trong sánh Tùy Chí là Mâu Tử không phải là thái úy Mâu Dung, vì Mâu Tử không muốn ra làm quan khi nhận được lời mời của thái thú Sĩ Nhiếp.

Trong bài tựa của sách Lý Hoặc Luận ông thừa nhận mình là người giỏi văn chương và đam mê đọc sách chứ chưa bao giờ làm quan. Lúc còn trẻ Mâu Tử là người uyên thâm nên Sĩ Nhiếp từng mời ra làm quan nhưng Mâu Tử từ chối: “Vì châu mục cảm tài học thấy chưa có chức phận muốn giao cho một chức quan nhưng tôi cũng cáo bệnh không đi…” Trong Tùy Chí và Hoàng Minh Tập đều nói Mâu Tử làm quan đến chức thái úy hay thái thú nhưng trong bài tựa ông nói không làm quan ở Giao Châu do Trung Hoa cai trị thời đó.

Theo bài tựa Lý Hoặc Luận, chính những tao loạn của thời thế đã làm cho Mâu Tử thấm nhuần được tư tưởng của Lão Tử nói về nguyên tắc "tuyệt tánh khí trí" mà ngày xưa ông không hiểu, chỉ vì ông đã đọc với trí năng mà không có kinh nghiệm sống. Vì ông đã đọc hết sách Lão, bây giờ không còn chuyện học Lão nữa mà là chuyện chiêm nghiệm về Lão. Có học thì là học Phật, và trong lúc học Phật, từ ngữ và tư tưởng Lão đã giúp ông đi vào Phật học một cách mau chóng. Và cũng chính vì biết rộng về Lão Giáo và Khổng Giáo mà ông có thể trình bày đạo Phật cho những người theo đạo Lão và Khổng một cách dễ dàng và hữu hiệu.

Ông cưới vợ năm 26 tuổi, và bắt đầu học Phật vào khoảng từ năm 30 tới năm 35 tuổi. Mâu Tử đã xuất gia sau khi xâm nhập vào Phật lý hay không? Ðiều này ta chưa thể quả quyết được. Cái tên Mâu Tử hay Mâu Bác có thể là một pháp danh [4]. Ðoạn kết của Lý Hoặc Luận cho ta cảm tưởng Mâu Tử là một Sa Môn, bởi vì theo đoạn này người đối thoại với ông, sau khi được thuyết phục, đã lạy ông và "xin thọ ngũ giới làm ưu bà tắc”.

1.2. Bối cảnh ra đời của tác phẩm Lý Hoặc Luận
Lý là xử lý, Hoặc là mê lầm, Lý Hoặc Lận là luận để xử lý, giải thích những mê lầm, những sai lầm của một số người đương thời đối với Phật giáo mà cụ thể là một số tri thức gia của Nho giáo và Lão giáo. Tác phẩm được viết dưới hình thức vấn đáp, đó là một thể tài thường được các luận sư Phật giáo Ấn Độ thời bấy giờ thường dùng.

Vào thế kỷ thứ 2, đạo Phật Ấn Độ bắt đầu phân phái thành nhiều nhánh nhỏ, do đó ở Ấn Độ xuất hiện từ 18 đến 20 bộ phái, từ đó nảy sinh hai bộ phái chính là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Vì sự thành lập nhiều bộ phái nhằm để giải thích rộng ra giáo lý của Đức Phật và giải thích chủ trương của hệ phái mình, mà những bộ phái của Phật giáo thời bấy giờ lúc buổi đầu thường mang tính chất tranh luận nên có người hỏi và người trả lời. Lý Hoặc Luận ra đời trong bối cảnh ở Ấn Độ có sự phân phái vì vậy mà Lý Hoặc Luận cũng bị ảnh hưởng từ những bộ luận của Phật giáo Ấn Độ nên theo thể tài vấn đáp, đó cũng là một trào lưu.

Sách này ngày nay được lưu giữ trong Hoằng Minh Tập do Tăng Hựu sưu tập và ấn hành vào thế kỷ thứ VI Tây lịch trong Đại Tạng kinh. Sách Tùy Chí và Đường Chí đều nhắc đến chứng tỏ rằng đây là một tác phẩm nổi bật trong giới thuật học Trung Hoa.

Trong cảnh rối ren, Mâu Tử đang ở Giao Châu, lúc đó có giới trí thức Nho, Lão đề cao trường sanh bất tử cũng mời ông cộng tác nhưng ông đã từ chối. Ông cho rằng đó là sự huyễn hoặc vì vậy ông bị giới Nho Lão phê bình. Ông dùng bút mực để nói lên những điều đang diễn ra trong xã hội nhiễu nhương: sự lộn xộn của Phật giáo Ấn Độ do có nhiều tông phái xảy ra những bất đồng về tư tưởng, nhà Hán thì tranh chấp chính quyền thì trong lúc đó chỉ có Giao Châu là được bình yên. Vì vậy mà giới thí thức Nho giáo và Lão giáo đã tranh thủ mời ông.

Ông nói: “Bèn nài chí theo đạo Phật, cũng nghiên cứu Lão Tử lấy huyền diệu làm rượu ngon, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo.”. Người thế tục đa số không biết cho rằng Mâu Tử đã phản lại Ngũ Kinh mà đi theo dị đạo. Thực ra nếu mở miệng tranh luận với họ thì cũng là phi đạo mà im lặng thì tưởng chừng như bất lực. Bèn lấy bút mực dẫn lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ. Đó gọi là Mâu Tử - Lý Hoặc Luận.

Thiền uyển tập anh_3 coi như là tác phẩm đầu tiên nhắc tới Mâu Tử. Trong truyện Thông Biện, nhân trả lời câu hỏi của thái hậu Ỷ Lan về lai lịch của Phật giáo Việt Nam, Thông Biện đã dẫn lời của Đàm Thiên và nhắc đến Mâu Bác và Khương Tăng Hội. [5]

Như thế, Mâu Tử - Lý Hoặc Luận có một vị trí quyền uy trong học giới qua việc nó được dẫn dụng một cách rộng rãi trong Phật giáo.

1.3. Nội dung tác phẩm Lý Hoặc Luận
Lý Hoặc Luận là một tác phẩm luận dưới hình thức vấn đáp, một thể tài văn học khá phổ thong thời bấy giờ. Gồm 13 chương tương đương 37 phẩm Đạo đức kinh, tương đương 37 phẩm trợ đạo của Đạo Đế trong giáo lý Tứ Đế của đạo Phật. Ông quan niệm đạo Phật thiên kinh vạn quyển không ngoài 37 phẩm trợ đạo mà thành Phật, bên cạnh đó 37 phẩm Đạo đức kinh của Khổng Tử cũng không nhằm mục đích giúp con người trở thành người tốt. Ông mượn lời thánh hiền dần dần chứng giải những điều mình nghĩ. 37 chương điều này dùng để trả lời những vấn nạn của những người theo Lão giáo và Nho giáo về Phật giáo lúc bấy giờ.

Trong tác phẩm, ông không giới thiệu Đức Phật là một nhân vật vật lịch sử mà chủ yếu giới thiệu Đức Phật là một nhân vật huyền sử (nghĩa là dựa vào cốt lõi của lịch sử mà thêm dấu ấn của huyền thoại), nhân vật huyền sử này có nhiều phép lạ thần thông. Quan điểm của Mâu Tử giới thiệu Đức Phật Đại thừa chứ không phải Đức Phật Nguyên thủy. Phật thể Đại Thừa xuất phát từ tâm thức của con người. Hình ảnh Đức Phật đó sâu xa huyền diệu như nước biển sâu không đáy, không thể dùng tư duy hay lời lẽ biện luận được. Mâu Tử cũng xác định rõ vị trí của nước Ấn Độ, ông bác bỏ quan điểm của Nho giáo rằng Trung Hoa nằm ở vị tí trung tâm của vũ trụ và Trung Hoa là nơi làm chủ thiên hạ (tư tưởng Đại Hán), thay vào đó Mâu Tử khẳng định Ấn Độ chính là trung tâm của trời đất mang bản chất hiền hòa. Ông viết: “Phật sở dĩ sanh Thiên Trúc thiên địa chí trung xứ, kỳ trung hòa giã.”. Nghĩa là: Đức Phật sở dĩ sanh ra ở Thiên Trúc vì đó là trung tâm của trời đất, là nơi con người có bản bản tính hiền hòa.”.

Mâu Tử cũng lập luận và ca ngợi tính sâu xa của đạo không thể nào lấy tư duy và ngôn ngữ thế gian để mà soi thấu được. Ông dùng ngôn ngữ của Lão giáo để nói về đạo Phật: “Đạo ấy buộc lấy không có đằng trước, muốn theo đi không có đằng sau, giỡ lên không có ở trên, đè xuống không có ở dưới.” ,dựa vào lý duyên khởi và tánh không (không nắm bắt gì cả). Trả lời như vậy chứng tỏ Mâu Tử là người uyên thâm, trả lời về đạo Phật mà Nho giáo và Lão giáo không bắt chẹt đâu được “khiển chi vô tiền, dẫn chi vô hậu, cử chi vô thượng, ức chi vô hạ…”

Nho giáo đưa ra vấn đề kinh Phật quá nhiều (tam tạng kinh điển có hàng ngàn cuốn) trong khi đó đạo Khổng chỉ có năm quyển không quá tám vạn từ, trong khi đó kinh Phật có hàng ngàn cuốn “kim Phật kinh quyển dĩ vạn kế”. Nói đến kinh là nói đến chân lý, mà chân lý thì phải được đúc kết. Vậy kinh sách Phật giáo nhiều như thế liệu có phải là chân lý hay không? nhiều như thế có phải là gạch ngói cát sạn hay không? Với những câu hỏi này chứng tỏ rằng Phật giáo ở Giao Châu đến thời điểm này đã phát triển mạnh mẽ, học thuật Phật giáo được nâng cao nên có nhiều sách viết về đạo Phật và chân lý mà đạo Phật đề cập không phải nằm trên chữ nghĩa văn tự mà ở cốt lõi thực hành giá tị chân lý đó hay không mà thôi. Theo Mâu Tử: “chân lý nằm trong hiện thực cuộc sống, điều quan trọng của giá tị đó có được thực hiện hay không chứ không phải đưa ra bàn cãi.” Như vậy lúc đó Giao Châu là đất mà đạo Phật rất phát triển do các tăng sĩ Ấn Độ và Trung Á đến đây truyền giáo.

Vấn đề hiếu hạnh của Mâu Tử trình bày về sự hiếu của Phật giáo. Do Nho giáo cho rằng Phật giáo là không chủ trương hiếu hạnh, đa phần là bất hiếu. Vì tội bất hiếu của Phật giáo là Tăng Ni đi tu không ai nối dõi tông đường, đó là tội thứ nhất theo quan niệm của Nho giáo. Tội thứ hai: thân thể hình hài do cha mẹ sinh ra không được làm tổn hại. Vậy mà Tăng sĩ của Phật giáo đầu tóc cạo sạch, cạo chân mày, như vậy làm tổn thương hình hài do cha mẹ sinh ra là bất hiếu. Mâu Tử còn cho rằng: nếu làm việc đức lớn thì không nên câu nệ tiểu tiết cũng như việc cứu cha mẹ là đức lớn, còn những việc khác chỉ là tiểu tiết mà thôi. Đây cũng thể hiện tinh thần báo hiếu bằng con đường xuất thế gian của đạo Phật.

Trong tác phẩm Lý Hoặc luận của Mâu tử còn đề cập đến chuyện sanh tử, vô vi của các trí thức Nho gia đã chất vấn Mâu Tử. Những điều này đã được trả lời rành mạch bằng cách vận dụng những kiến thức sâu rộng của ông không những kiến thức Phật giáo mà còn cả những điển tích và luận lý của Nho giáo và Lão giáo để thuyết phục những câu chất vấn của họ đã đưa ra.

1.4. Thông điệp nội dung tác phẩm
Với tác phẩm Lý Hoặc Luận, Mâu Tử đã giải thích những suy nghĩ, những tư tưởng mê lầm, những mối nghi hoặc của giới trí thức Nho Lão trong thời Phật giáo mới du nhập. Bối cảnh bấy giờ Nho giáo và Lão giáo là hai tôn giáo lớn của Trung Hoa đã du nhập vào nước ta trước qua con đường xâm lược còn Phật giáo là tôn giáo mới được những người thương buôn và tu sĩ Ấn Độ, Tây Á truyền sang nhưng lại được phát triển thịnh hành hơn. Có thể do sự đố kỵ nhau mà không thích những tư tưởng khác ngoài sự bành trướng của Trung Hoa với những đạo giáo của mình nên có ý công kích Phật giáo. Nhưng Mâu Tử đã khéo léo dùng lối trả lời của mình không chỉ dựa vào những điển tích của Trung Hoa mà còn dẫn lời của Khổng Mạnh và Trang Tử, Lão Tử… vào tác phẩm của mình để trả lời. Chứng tỏ rằng Mâu Tử là người uyên thâm không những Phật giáo mà còn uyên thâm cả Lão và Nho. Với sự uyên thâm ấy đã thuyết phục được những tư tưởng của Nho gia và Lão gia, làm cho đạo Phật càng có sức ảnh hưởng đối với xã hội lúc bấy giờ.

2. QUAN ĐIỂM HIẾU HẠNH CỦA PHẬT GIÁO TRONG THỜI KỲ DU NHẬP
2.1. Nghệ thuật xây dựng hình ảnh hiếu hạnh trong tác phẩm Lý Hoặc Luận
Truyền thống Việt Nam từ ngàn xưa vốn xem đạo hiếu là lửa thiêng un đúc tinh thần gia tộc. Tinh thần hiếu hạnh ấy của người xưa được đề cao. Cho đến khi nước ta bị giặc phương Bắc đô hộ, ảnh hưởng nền văn hóa Nho giáo và Lão giáo thì chữ hiếu càng đặt nặng. Phàm là người phải thờ cha kính mẹ bằng cách chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau về già hoặc lấy vợ gả chồng sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường, tạo dựng cơ nghiệp làm rạng danh tiên tổ. Với chuẩn mực của xã hội phong kiến ảnh hưởng Nho giáo lúc bấy giờ thì hình ảnh những người tu sĩ của đạo Phật từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khác với thường tình cho nên không tránh những sự đã kích. Những quan niệm đó đã được Mâu Tử lý giải trong Lý Hoặc Luận nhằm để giải thích quan điểm hiếu hạnh của người tu sĩ Phật giáo qua những hình ảnh bằng những câu chuyện xưa của Nho giáo và Lão giáo để chứng minh điều mà những người tri thức Nho, Lão đã chất vấn.

Ở đây chúng tôi xin trích nguyên văn câu 9 trong Tổng tập văn học của Lê Mạnh Thác[6]: “Hỏi: - Hiếu kinh nói: “Thân thể, tóc da nhận từ cha mẹ không dám hủy thương” - Tăng Tử lúc sắp mất, bảo: “Kéo tay ra, duỗi chân ra!” Nay sa môn cắt tóc, sao trái với lời dạy của thánh nhân, không hợp với đạo người con hiếu. Ông thường ưa luận phải trái, bàn thẳng cong, mà đi ngược điều thiện hay sao?” Quan niệm về hiếu đạo của người Trung Quốc là cha mẹ cực khổ khó nhọc mang nặng đẻ đau nuôi dưởng hình hài này khôn lớn, công ơn đó chưa ngày nào đền đáp được, vậy mà đi hủy hoại nó bằng cách cắt sạch tóc đi, làm như vậy là tổn thương đến công lao sinh dưỡng của cha mẹ như vậy là bất hiếu.

Người vấn nạn đã dựa vào lý lẽ trên bài bác Mâu Tử, thì Mâu Tử chỉ ngay: "Thái Bá cắt tóc, vẽ mình, tự theo tục của Ngô Việt, trái với nghĩa thân thể tóc da; vậy mà Khổng Tử ca tụng, cho có thể gọi là chí đức, Dự Nhượng nuốt than, sơn mình. Nhiếp Chính lột mặt, tự vẫn. Bá Cơ dẫm lửa, hạnh cao cắt mặt. Quân tử cho là dũng và chết vì nghĩa, không nghe ai chê là tự hủy hết".

Ở đây quan niệm đạo hiếu như trong Hiếu kinh như thế không thể nào phù hợp với ngay chính tập tục sống rất phổ biến cuả người Việt Nam vào thời Hùng Vương mà Tiền Hán đã ghi lại "Đất Việt nay là Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, đều là phần của Việt... xâm mình cắt tóc để tránh hại của giao long". Lúc bấy giờ ở nước ta dân thường ở trong nước, nên cắt tóc xâm mình, cho giống với con rồng, để không bị thương hại". Trong kinh Tu Đại Noa của Lục độ tập kinh 2[7] quan điểm về đạo hiếu này được công bố rõ ràng rằng: "Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh?”. Khi xác định đứng đầu mọi hạnh là việc "giúp nghèo cứu thiếu thương nuôi quần sanh", thì đây là một định nghĩa hoàn toàn mới về chữ hiếu, bởi vì theo Đỗ Khâm trong Tiền Hán thư thì "hiếu đứng đầu mọi hạnh của con người", và đây cũng là ý chính của Hiếu kinh, mà Tiền Hán thư đã dẫn: "Hiếu kinh nói: "Tính của trời đất, con ngưòi là quí. Hạnh con người không gì lớn hơn hiếu".

Trong khi đó, tư tưởng Phật giáo khi du nhập vào nước ta trong đó quan niệm hiếu hạnh không mang tính lý thuyết mà đề cao bằng hành động và thái độ sống để làm sao là một người con có hiếu nhưng vẫn hướng đến sự giải thoát khổ đau. Mục đích của hiếu hạnh là kết nối truyền sự yêu thương, hướng con người đi đến sự bình an nội tại, tìm hạnh phúc chân thật trong cuộc sống. Chủ yếu là áp dụng hạnh hiếu bằng thái độ và hành động đối với cha mẹ và những người quyến thuộc như thế nào để được lợi lạc. Việc xuất gia tu hành, cạo bỏ râu tóc, sống một đời sống không gia đình không chỉ tự hoàn thiện bản thân mà còn có khả năng báo hiếu cho cha mẹ, hướng dẫn cha mẹ sống đúng chánh pháp, đưa đến sự an lạc, hạnh phúc.

Với trí tuệ của đạo Phật thì kiếp người đầy đau khổ, mà nỗi khổ lớn nhất là luân hồi tái sanh. Cho nên người xuất gia tu hành chân chánh có thể hướng dẫn cha mẹ và quyền thuộc hiểu được chân lý mà tu tập để giải thoát khỏi luân hồi. Đây mới là việc lớn thì đối với chuyện “cạo tóc”chỉ là những tiểu tiết mà thôi. Vả lại tập tục của người Việt lúc bấy giờ “cạo tóc xâm mình” từ thời Hùng Vương nên không thể bắt người Việt phải thực hành hiếu hạnh như Trung Hoa được. Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng mà nếu bản sắc ấy mất đi xem như dân tộc đó không còn tồn tại. Như vậy việc cạo tóc của các tu sĩ Phật giáo không phải là việc để khẳng định họ có hiếu hay bất hiếu.

Với quan điểm này Mâu Tử trả lời: Trong sách Không Tử có khen một thần dân vào thời nhà Chu được vua ban thưởng. Có hai cha con trong một làng chài, cha thường ra biển ngồi khi có tâm sự. Một hôm, sẫy chân rớt xuống biển, người con tình cờ đi ra vớt cha lên, thấy cha chưa tỉnh nên đánh vào má cha, đè bụng cha cho nước. Như vậy có phải là bất hiếu không mà lại được vua khen. Mâu Tử còn cho rằng: nếu làm việc đức lớn thì không nên câu nệ tiểu tiết cũng như cha ngã xuống nước thì cứu cha là đức lớn, còn nắm chân kéo tay dốc đầu cha để cho nước trong bụng cha chảy ra hết để cứu cha thoát chết tất cả chuyện đó là tiểu tiết.

Do nói rằng Phật giáo là không chủ trương hiếu hạnh, đa phần là bất hiếu. Vì tội bất hiếu của Phật giáo là Tăng Ni đi tu không ai nối dõi tông đường, đó là tội thứ nhất theo quan niệm của Nho giáo: “Kìa phúc không gì hơn là nối dõi, bất hiếu không gì hơn là không có con trai. Sa môn bỏ vợ con, vất của cải, có người suốt đời không lấy vợ, sao mà trái với hạnh phúc đức và hiếu tử như thế? Tự khổ mình mà không có chi là kỳ, tự cực mình mà không có chi là lạ cả!”

Quan niệm nối dõi này mang hai đặc tính cần lưu ý. Trong cuộc đấu tranh để giữ gìn nòi giống của người Việt ta thấy: điểm thứ nhất, để bảo vệ sự tồn tại như một dân tộc, nền văn hóa, một nền đạo đức học thuật cần phải nối dõi, cần phải bảo vệ mà nếu không nối dõi được thì dân tộc không thể tồn tại với tư cách là một dân tộc được. Xuất phát từ quan điểm nối dõi như thế, người Việt không đi đến một chủ nghĩa nối dõi cực đoan mà người Việt sẵn sàng mở rộng đôi tay đón nhận những người từ dân tộc khác đến sống chung trở thành một bộ phận của dân tộc mình.

Đây là đặc điểm thứ hai của quan niệm thừa tự của người Việt là bởi vì địa bàn sinh tồn của họ, cụ thể là vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ vào thời xa xưa đã tồn tại những dân tộc khác. Cho nên, sự giao lưu về huyết thống giữa các dân tộc khác nhau tất phải xảy ra. Do đó, nếu chỉ dựa vào sự nối dõi theo quan điểm sinh vật học, thì người Việt đã không phát triển và hình thành được một cộng đồng dân tộc thuần nhất. Họ phải dựa vào một quan điểm khác để có sự thuần nhất ấy, đó là sự thuần nhất về mặt văn hóa và lối sống. Và như thế hạnh hiếu không chỉ là cơ sở cội nguồn của văn hóa tình người mà còn cơ sở thiết lập nền văn hóa vô ngã khi mà con người luôn giáp mặt khổ đau và tìm cách vượt thoát khổ đau. Do thế mà thấy nếu có đức lớn thì không câu nệ vào tiểu tiết. Sa môn vứt gia sản, không vợ con, không nghe đàn, không nhìn sắc, có thể bảo là đã nhường hết thì sao lại trái với lời Thánh không hợp đạo hiếu?

Rõ ràng Mâu Tử đã vận dụng tinh thần tùy duyên của giáo lý Duyên khởi để lý giải. Hiếu hạnh là sự thể nhập cuộc sống thực tiễn để trở thành nếp sống văn hóa ứng xử tình người mà trao cho nhau bằng tình thương thật sự, chứ không phải là học thuyết, giáo điều gì cả mà chấp chặt. Cho nên Mâu Tử cũng dùng ngôn ngữ, điển tích Thái Bá theo tục Ngô Việt, xác nhận tục này khác với tục Trung Hoa, nhưng người Trung Hoa vẫn có một số thành phần trong xã hội theo tục Ngô Việt được Thánh nhân Khổng Tử khen.

Để lý giải quan điểm của mình Mâu Tử nói: “Bên trái dài, thì bên phải ngắn, đằng trước lớn thì đằng hẹp. Mạnh Công Xước làm ông già nước Triệu, nước Ngụy thì tốt chứ không thể lấy làm đại phu cho nước Ngụy thì tốt chứ không thể lấy làm đại phu cho nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài sản là vật thừa ở đời, thân sạch vô vi là huyền diệu của Đạo vậy. Lão Tử nói “Danh tiếng với thân mệnh, cái nào quí hơn? Lại nói “Thân mệnh với của cải, cái nào quý hơn? Hứa Do làm nhà ở trên cây, Di Tề chết đói ở Thủ Dương, Thuấn Khổng ca ngợi là bậc hiền, nói “Cầu đạo nhân được đạo nhân vậy”. Chưa từng nghe thấy chê là không có nối giòng, không có của cải. Sa môn tu đạo đức để đổi niềm vui của đời phù du, tu giải thoát làm an lạc thay cho nỗi hệ lụy phiền hà nếu có vợ con. Với quan điểm hiếu hạnh của Nho giáo về vấn đề nối dõi tông đường đã được Mạnh Tử xiển dương mạnh mẽ với câu nói “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” đã tác động khá mạnh vào tâm thức người Trung Hoa xưa nay. Cho nên, ta chẳng ngạc nhiên gì giới Nho gia thắc mắc về vấn đề người Phật tử xuất gia, sống đời sống không gia đình làm sao có đủ nhân duyên báo hiếu. Thực ra, xuất gia theo Mâu Tử là người có khả năng báo hiếu một cách trọn vẹn nhất, nó cũng lý giải vì sao thông điệp Phật giáo về con đường sống đạo thời du nhập đưa ra: “Ở trong nhà là báo hiếu cha mẹ, ra ngoài xã hội là giúp nước, ngồi một mình thì hoàn chỉnh bản thân” như điều điều 4 Lý hoặc luận ghi.

Vậy là Phật giáo thời du nhập đã thể nhập hiếu hạnh vào lối sống người dân nước ta phù hợp với truyền thống hiếu hạnh của dân tộc. Nếu Phật giáo xác định việc xuất gia là thể hiện là đời sống biết yêu thương chúng sinh như con đẻ của mình thì lo gì không có sự yêu thương giữa những người ngoài tính huyết thống gia tộc. Theo quan niệm của đạo Phật tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay đều là quyến thuộc của ta, bên cạnh đó truyền thống người Việt đều là con mẹ Âu Cơ và cha già Lạc Long Quân trong ý niệm “đồng bào”, hẳn nhiên mọi người sẽ được hạnh phúc an lạc.

Đây cũng là cơ sở lý giải cho tại sao thời hiện đại quan điểm hiếu hạnh của nhân dân ta được vận dụng vào thực tiễn để xây dựng và bảo vệ đất nước.

2.2. Sự khác biệt về quan điểm hiếu hạnh giữa Nho giáo và Phật giáo
Nước Việt ta từ xưa đến nay chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa mà đặc biệt là văn hóa tôn giáo, sự du nhập của Nho, Lão và Phật giáo đã tạo ra một nền văn hóa đa dạng của người Việt mà trong những văn hóa được đề cao nhất ấy là quan điểm hiếu hạnh. Mỗi tôn giáo có đặc trưng riêng của tôn giáo mình và quan điểm về hiếu hạnh cũng không tương đồng. Chính vì thế mà trong tác phẩm Lý Hoặc Luận của Mâu Tử đã phải giải thích cho các trí thức Nho gia lúc bấy giờ hiểu quan điểm hiếu hạnh của Phật giáo.

Trong Kinh Thi của Nho giáo đã không ngần ngại tuyên ngôn “Hiếu đạo” là cơ sở thiết lập, mở đầu văn hóa tình người một cách thiết thực mà ai cũng có thể cảm nhận: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực” (Cha sinh ta ra, mẹ bồng bế ta, thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo đáp ân sâu, khác nào trời cao khôn lường). Rõ ràng, cội rễ văn hóa con người được kết tinh bằng tình thương cha mẹ dành cho con cái. Cho dù bạn là ai, từ đâu đến, tất cả đều không ra khỏi cuộc hành trình bất tận mà phụ mẫu đã đi qua mà kinh điển xưa nay đúc kết thành chín chữ “cù lao”: Sinh (đẻ ra), Cúc (nâng đỡ), Phủ (vuốt ve), Súc (nuôi cho bú mớm), Trưởng (nuôi cho khôn lớn), Dục (dạy dỗ), Cố (trông nom), Phục (xem tính tình mà bảo ban), Phúc (bảo vệ).

Con người thăng hoa nhờ sự nuôi dưỡng trong vòng tay của mẹ, sự nghiêm trì giáo dưỡng của cha mà cất bước chân đi vào đời, làm sáng tươi, tô điểm cho đời. Cho nên, chương đầu của Hiếu Kinh ghi nhận: “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo, dương danh hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã” (Hiếu là căn bản của đức, giáo hóa từ chữ hiếu mà ra. Bước đầu của đạo hiếu là phải giữ mình, vì thân thể, tóc, da của ta có từ cha mẹ, nên không dám làm tổn thương đến. Lập thân hành đao, để lại được tiếng thơm muôn thuở làm rạng rỡ đức hạnh của cha mẹ, đó là cái đích của đạo Hiếu). Thực tế ở đời, tất cả sự thành tựu của mỗi cá thể đều xuất phát từ tâm hiếu. Một người có hiếu thảo với mẹ cha thì mới có sự liên hệ thân thiện với những người xung quanh. Nói rộng ra, một người có tâm hiếu chí thành thì mới có sự hiếu để với cha mẹ, sự tôn kính với bà con dòng họ, sự kết nghĩa keo sơn của tình huynh đệ tỷ muội, sự chung thủy với người tình trăm năm, chung sống hòa thuận với làng xóm, thân thiện với cộng đồng xã hội.

Thế nên, Khổng Tử từng nói: “Đạo hiếu bắt đầu từ việc thờ cha mẹ, kế đến là thờ vua giúp nước và sau cùng là lập thân”. Một con người được xem là có nhân cách đầu tiên là sự hiếu thảo đối với cha mẹ, sau đó mới nói đến chuyện thờ vua giúp nước, lập thân. Nếu không đối xử tốt với cha mẹ mà đối xử tốt với người ngoài thì cũng chỉ để cầu lợi mà thôi. Đó chính là suối nguồn văn hóa mà mỗi cá nhân hiện hữu ở cõi đời này đều khát khao thực thi.

Trang Tử còn khai mở đạo Hiếu rộng ra để mỗi người có điều kiện thực thi qua ba điều: “Đạo Hiếu có ba: Đại hiếu là tôn kính cha mẹ, kế là không làm cho cha mẹ mang tiếng nhục, sau cùng mới là nuôi dưỡng”. Bổn phận người con hiếu hạnh là phải biết thương yêu và kính trọng cha mẹ. Cho dù con người có thành đạt công danh đến vị trí nào trong xã hội thì sự hiếu thảo với cha mẹ cũng không bao giờ đổi thay. Đây chính là đại hiếu. Do đó, người con phải biết sống đạo đức mà học thuyết Nho gia khuyến cáo theo tinh thần Tam cương, Ngũ thường, Tam tùng, Tứ đức, Phụ từ, Tử hiếu, Phu xướng phụ tùy để thiết lập các mối quan hệ giữa người với người ngày càng tốt hơn, không nên vì danh lợi mà làm cho cha mẹ phải tủi nhục. Vì thế con cái phải biết giữ gìn thanh danh cho cha mẹ.

Đạo làm người là phải biết nuôi dưỡng, phụng dưỡng cha mẹ như là bổn phận trách nhiệm của người con có hiếu nào ở đời này. Điều này khiến chúng ta càng thấy lời khuyên của Khổng Tử càng thấm thúy hơn bao giờ hết, nhất là trong văn hoa ứng xử với cha mẹ: “Hiếu tử chi sự thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí ưu, tang tắc trí ai, tế tắc trí kỳ nghiêm” (Người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, ăn ở cư xử phải cực kỳ cung kính, nuôi dưỡng cha mẹ hết sức vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc ma chay phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải rất mực trang nghiêm”. Do đó, sự hiếu thuận không chỉ báo đáp bằng việc cung phụng vật chất đầy đủ mà còn cả bằng sự nhiệt tâm tinh cần đối với cha mẹ. Ngay cả khi trở thành người khá giả, sự thờ phụng cha mẹ không phải do người giúp việc lo lắng mà đích thân chính mình chăm chút từng miếng ăn, chỗ ở, kể cả việc thực thi những điều mà cha mẹ nghĩ đến nhưng không tiện nói ra. Cha mẹ qua đời không chỉ lo hậu sự mà cũng biết hướng nghĩ đến cha mẹ như khi phụ mẫu còn sinh tiền, nhất là thực thi những tâm nguyện mà cha mẹ phó thác. Rõ ràng đạo Hiếu mà Nho giáo thiết lập sẽ có tác động vào quá trình hình thành và phát triển văn hóa con người trên mọi lĩnh vực.

Phật giáo truyền vào nước ta với nền giáo lý cũng được thiết lập trên cơ sở suối nguồn của tâm hiếu. Chính Đức Phật từng nói tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật. Trong kinh Tương Ưng, Phật còn nói “Vô thỉ luân hồi, tất cả chúng sinh từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị, là bà con quyến thuộc trong các nẻo đường sinh tử”. Xem ra, giáo lý nhà Phật thiết lập nền văn hóa cho nhân loại cũng khởi đầu bằng việc tiếp nhận văn hóa hiếu hạnh. Đạo lý giải thoát khổ đau, chứng ngộ Niết bàn cũng bắt đầu từ đây. Nếu Kinh Thi nói tóm tắt công đức cha mẹ qua chín chữ Cù lao như trên thì kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân trình bày công ơn sinh thành của cha mẹ và giải trình phương pháp báo đáp ân đức phụ mẫu một cách rốt ráo và cụ thể rõ ràng hơn. Có thể nêu ra đây 10 công đức của mẹ đối với con cái: 1. Chín tháng cưu mang khổ nhọc, 2. Sợ hãi, đau đớn khi sinh, 3. Nuôi con cam đành cực khổ, 4. Nuốt cay, mớm ngọt cho con, 5. Chịu ướt, nhường ráo cho con, 6. Sú nước, nhai cơm cho con, 7. Vui nhặt đồ dơ cho con, 8. Thương nhớ khi con xa nhà, 9. Có thể tạo tội vì con, 10. Nhịn đói cho con được no. Kinh Tăng Nhất A Hàm còn ghi lại lời dạy của Phật về công ơn sâu dày của cha mẹ thật cao hơn trời, sâu hơn biển cả, đồng thời khuyên con người phải biết tri ân và báo ân với cha mẹ: “Này các thầy Tỳ kheo, nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa nghìn dặm, cung phụng đầy đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn đệm và thuốc thang, thậm chí du cho cha mẹ có tiểu tiện trên vai mình đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu. Các thầy phải hiểu rằng ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế mà biết ân khó trả. Này các thầy Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ”.

Quan điểm hiếu hạnh của Phật giáo không chỉ đề cao trên phương diện cung phụng vật chất mà cả phương diện thực nghiệm tâm linh để tu tập giải thoát “Mười phương chư Phật đều bắt nguồn từ tâm hiếu”. Không có một người nào thành Phật thành Thánh mà bất hiếu. Vì vậy hiếu là cuội nguồn của mọi hạnh lành. Con người không chỉ hoàn thiện nhân cách mà còn biết quý trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em, hòa thuận với mọi người trong xã hội và không ngừng nỗ lực tích cực đóng góp cho đất nước, cho đời, cho đạo. Chính Mâu Tử, người tiếp thu giáo lý nhà Phật ở thế kỷ thứ II[8], từng phát biểu trong tác phẩm Lý hoặc luận khi ông trả lời cho giới trí thức Nho gia về con đường chánh đạo của Phật giáo chính là đạo Hiếu: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì cứu dân độ thế, khi ngồi một mình thì tu thân”. Theo Mâu Tử: mỗi người tự thân phải hiếu thảo với cha mẹ đó là điều hiển nhiên mà con người phải thực thi. Vì phụ mẫu là đấng sinh thành ra chúng ta, khổ nhọc nuôi dưỡng ta nên người. Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật ví dụ công đức của cha mẹ như núi cao biển rộng sông dài: “Ân cha lành cao như núi Thái, Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi. Dù cho dâng trọn một đời, Cũng không trả hết ân người sinh ra”. Sự đền ơn đáp nghĩa cho cha mẹ không gì hơn là phải thực thi 5 điều mà kinh Thi Ca La Việt ghi: 1. Cung kính và vâng lời cha mẹ, 2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, 3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình, 4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại, 5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời. Ngoài ra Đức Phật còn đề cập bốn trách nhiệm để hướng dẫn cha mẹ sống đúng theo Chánh pháp: 1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo, 2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí, 3. Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng tâm làm việc thiện, 4. Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến. Đây chính là hiếu hạnh mà đạo Phật chủ trương trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Ở vế thứ hai mà Mâu Tử đề xuất thực thi tâm hiếu hạnh là cần thiết lập các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng trong việc tham gia tích cực đóng góp cho xã hội, cho quốc gia dân tộc. Hay nói cách khác đã là người Phật tử phải sống theo hạnh nguyện lý tưởng Bồ tát, độ mình chính là độ người. Nghĩa là khi tâm hiếu của mỗi cá nhân hiện hữu hướng tâm chảy vào từng thành viên trong cộng đồng đó chính là tình đồng bào; khi nó tuôn chảy vào quốc gia dân tộc thì sẽ hóa hiện tấm lòng trung với nước và hiếu với dân. Tại đây, tâm hiếu chính là sự thực thi hạnh nguyện sống theo tinh thần Tứ ân, trong đó ân quốc gia được chú trọng hàng đầu mà tham gia tích cực xây dựng quê hương xứ sở, yêu nước chính là yêu đạo.

Ở vế thứ ba, ta thấy Mâu Tử khuyến cáo mọi người là khi ngồi một mình là biết tu thân. Tu thân chính là thực thi hạnh hiếu bằng cách sống theo tinh thần của một Phật tử chân chính mà bản kinh Đại báo phụ mẫu ghi: 1. Giữ gìn Tam quy, Ngũ giới, 2. Thường học hỏi và đọc tụng kinh điển, 3. Siêng năng lễ Phật sám hối, 4. Thường cúng dường Tam bảo, 5. Bố thí làm phước, hồi hướng công đức cho cha mẹ, 6. Cúng dường chư Tăng trong ngày Tự tứ.

Thông điệp của đạo Phật chính là thông điệp đạo Hiếu. Giá trị thiết thực của thông điệp này không chỉ mang tính nhân văn cao cả mà còn là cơ sở để hướng tâm giải thoát. Một người hiếu thuận với mẹ cha thì chắc chắn sẽ có kết quả của một đời sống bình an nội tại ngay trong đời này, khi lâm chung sẽ sinh vào nơi cảnh giới an lành. Nhưng quan trọng hơn, nó bảo lưu mọi giá trị văn hóa truyền thống, sự kết nối giữa người còn kẻ mất theo nguyên lý Duyên khởi: “Nếu mình hiếu thảo với mẹ cha, Mai sau con hiếu với ta khác gì. Nếu mình ăn ở vô nghì, Đừng mong con thảo làm gì uổng công. Kìa xem giọt nước xuôi dòng, giọt sau, giọt trước cũng đồng một nơi.”

Cuộc sống thật là nhiệm mầu, từ trong thực tính duyên khởi, tâm hiếu cứ thế mà vận hành trong từng trái tim con người. Có gì đẹp hơn khi mọi người biết sống yêu thương nhau nhiều hơn để cùng nhau sẻ chia những khó khăn, vượt thoát những khổ đau của thân phận kiếp người. Dù quan niệm của mỗi tôn giáo có khác nhau nhưng điểm chung là ở đó tâm hiếu của mỗi người được làm hiển lộ thành hoa thơm quả ngọt dâng cho cha mẹ hiện tiền, tứ ân phu mẫu, lục thân quyến thuộc, cho đồng bào, cho quê hương xứ sở của chính mình.

3. Ý NGHĨA HIẾU HẠNH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT
Người ta hiểu ra rằng, có một giá trị xuyên thời gian và không gian, từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho đến khi trái đất còn con người. Đó là tình cha mẹ đối với con cái, ơn sanh thành, đức dưỡng dục mà mỗi một con người trân trọng đúc kết và nâng niu thành chữ hiếu. Chữ hiếu ấy, triết lý phương Đông nâng lên thành đạo.“Đạo hiếu” chi phối ứng xử của con người trong gia đình và trong xã hội. Đó là một biểu hiện thật sâu đậm của đạo lý xã hội Việt Nam ta.

Trong kinh “Báo đáp thâm ân cha mẹ”, Phật dạy về mười công ơn của mẹ mà người làm con phải ghi lòng tạc dạ. Trong “Kinh Lăng Nghiêm” có đoạn: “Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhờ thương con. Nếu con trốn tránh, mẹ nhờ ích gì. Con nên nhớ mẹ như mẹ nhớ con, như vậy qua nhiều đời sẽ chẳng xa trái nhau”[9]

Thực hành “đạo hiếu”, tư tưởng và tình cảm của con người sẽ có chỗ quy tụ để “chẳng xa trái nhau”! Vì rằng, trong sâu thẳm tâm hồn con người luôn lung linh một ánh sáng mang tính vĩnh hằng, đó là ánh mắt trìu mến của mẹ. Với nhiều người, kể cả những người tuổi đã cao, thì dù mẹ đã khuất núi, ánh sáng từ đôi mắt mẹ vẫn ấm áp chiếu rọi con đường đời của họ. Rồi với thời gian và sự trải nghiệm trong những chặng đường đời, người ta ngày càng nhận chân được những giá trị mà nếu thiếu nó, con người không thể sống nổi làm người. Trong những giá trị ấy, nhiều người xếp chữ hiếu lên hàng đầu. Và vì mỗi một người đều được một người mẹ sinh ra, dù được sinh ra nơi nhà cao cửa rộng, lầu son gác tía hay sinh ra dưới mái tranh nghèo xiêu vẹo dột nát, thì tiếng khóc chào đời nào cũng gắn với một bầu sữa mẹ. Nghĩa tình sâu nặng của mẹ, mỗi con người được uống từ bầu sữa thiêng liêng ấy. Điều đó tạo nên giá trị thiêng liêng mang tính vĩnh hằng của chữ hiếu.

Giá trị thiêng liêng ấy do tạo hóa ban tặng cho con người. “Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, đó là đạo lý ngàn đời không lay chuyển. Công cha nghĩa mẹ, ơn sinh thành, đức dưỡng dục mà mỗi con người được nhận lĩnh để nên người chính là báu vật trời cho. Những ai chẳng may không được nhận lĩnh trọn vẹn, hoặc tự đánh mất ân huệ ấy, thì quả là nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người. Hai chữ “nên người” rất dung dị, cứ tưởng như quá đơn giản, song phân tích kỹ sẽ ngộ ra nhiều chiều kích rất sâu và rất rộng. Lọt lòng mẹ, báu vật được tạo hóa ban tặng đó sẽ từ dòng sữa mẹ mà tự trở thành con Người.

Từ cộng đồng xã hội đầu tiên là trong bào thai của mẹ kết tinh bằng “tinh cha, huyết mẹ” cho đến khi sinh ra được sống trong một gia đình dù là sang giàu hay nghèo hèn mà quá trình con người trở thành con người xã hội được khởi động và hoàn thành trong sự tiếp xúc dần với những cộng đồng lớn hơn : hàng xóm láng giềng, nhà trường, các hội đoàn… và xã hội rộng lớn. Tất cả những điều ấy cho thấy: tự nhiên không trực tiếp sinh thành ra con người theo nghĩa đích thực của nó.

Tạo hóa chỉ ban cho thực thể tự nhiên đó những tiền đề sinh thể để con người tự tác thành nên chính mình trong quá trình xã hội hóa, tức là quá trình con người tự sản sinh ra chính mình, trở thành con người xã hội. Gia đình là một cộng đồng khác biệt hẳn với tất cả các cộng đồng xã hội khác ở tính huyết thống và tính không chọn lựa. Không ai có thể chọn cửa mà sinh ra, chọn lựa cha mẹ.

Nhà thờ Nguyễn Duy đã cho rằng “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”. Cái phần “hồn” ấy mới mong manh, sống động, mãnh liệt, nhưng cũng dễ bị thương tổn biết bao. Vậy mà, không có cái phần “hồn” ấy thì phần “xác” còn có nghĩa lý gì? Chăm sóc đời sống tâm hồn của một con người lúc còn là đứa bé khó hơn rất nhiều so với lo cho chúng “hay ăn, chóng lớn”. Cái phần “hồn” sẽ tạo ra những chuẫn mực sống trong gia đình và xã hội. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau trong mối thâm tình máu mủ, ruột rà. Không thấy rõ điều ấy, sẽ khó mà hiểu rõ cái đạo làm người: đạo hiếu.

Đạo hiếu không phải là nghĩa vụ mà là giá trị văn hóa đạo đức và nhân cách của con người. “Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Câu ca dao ấy đã trở thành bài kinh nhật tụng khắc sâu vào trong tâm hồn của mỗi người, mà suy cho cùng ai không cư xử tốt với cha mẹ là người đã sinh ra mình thì còn trong mong gì kẻ ấy đối xử tốt với tha nhân. Đối xử tệ bạc với cha mẹ mà đối xử tốt với người ngoài thì cũng chỉ để cầu lợi mà thôi.

Thực tế, xuất gia không phải từ bỏ cha mẹ và người thân, xuất gia chỉ có nghĩa là có thái độ sống xa rời danh lợi thế gian, từ bỏ tham sân si. Xuất gia là chấp nhận chúng sinh là bà con thân thuộc của mình. Tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt thân, sơ; tất cả đều là cha, là mẹ, anh chị em, con cái, cháu chắt ruột thịt của mình.

Văn hóa Việt Nam vốn xem trọng chữ hiếu, nhưng người xuất gia là đệ tử Phật báo hiếu cho cha mẹ bằng cách tu hành và độ cho cha mẹ thoát khỏi sanh tử khổ đau, bên cạnh đó còn làm lợi ích cho chúng sanh thì những công đức ấy cũng là để báo đáp một phần công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ vậy. Như vậy, quan điểm hiếu hạnh của Mâu Tử trong lý Hoặc Luận phù hợp với tinh thần của Phật giáo mà cũng không trái với đạo hiếu của người Việt xưa.

KẾT LUẬN
Trong tác phẩm Lý Hoặc luận của Mâu Tử mà nhất là về quan điểm hiếu hạnh, ông đã thoát ly khỏi sự khống chế của quan điểm mê lầm và nhận chân được sự đứng đắn cao siêu của giáo lý Phật giáo, vượt lên trên những quan điểm Khổng Mạnh mang tính dân tộc hẹp hòi chủ quan. Mỗi đạo có mỗi bản sắc và những quan điểm riêng của đạo mình, không nên bắt người khác phải có những tư tưởng giống như mình mới là chánh đạo còn khác mình thì xem như tà đạo.

Quan điểm về hiếu hạnh của Nho giáo và Phật giáo cũng có những điều khác nhau nếu giống nhau về tất cả thì Phật giáo đã là Nho giáo rồi mà không phải là Phật giáo nữa. Không phải đạo Phật làm khác đi mà với trí tuệ siêu việt của một bậc giác ngộ như Đức Phật thì hạnh hiếu còn vượt xa hơn nhiều. Việc “cạo tóc” của người xuất gia không thể kết luận họ là bất hiếu được. Nếu như vậy có những người để tóc mà đối xử không tốt với cha mẹ thì sao. Hiếu hạnh không phải chỉ cung phụng cha mẹ hay nối dõi tông đường mà còn hướng cha mẹ tu hành để giải thoát luân hồi khổ đau.

Trong tác phẩm này ta cũng thấy những quan niệm của Mâu Tử có ngụ ý đạo Phật không phải là đạo bị lệ thuộc bởi những tư duy, hay ngôn ngữ mà có thể lý giải được mà nó siêu việt cả thời gian và không gian mà những con người tầm thường khó có thể nhận chân được. Điều đó phải qua trải nghiệm bằng sự tu tập, thật sự có nghiên cứu uyên thâm và có tâm chứng trong tu hành thì mới thấu hiểu. Nho, Lão có cái hay của Nho, Lão thì Phật giáo cũng có cái hay của Phật giáo. Mọi sự vật sự việc của vũ trụ chỉ là tương đối mà thôi, nếu hiểu được điều này con người sẽ sống nhẹ nhàng thảnh thơi hơn. Tất cả những kiến thức những quan điểm của nhân loại là để bổ sung đù đắp cho nhau chứ không phải phỉ báng nhau. Nếu có tinh thần học hỏi ta vẫn thấy người khác có những điều hơn mình mà mình chưa làm được, như vậy mới là người hiền tài.

Với những quan điểm của Mâu Tử cho ta có một cái gì đó phải nhìn nhận lại trong sự hiếu hạnh của mỗi con người và mỗi người hãy làm đúng với hạnh hiếu ấy sao cho hợp với khả năng và vị trí của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 716 Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn.
2. Lê Mạnh Thác, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Từ Khởi Nguyên Ðến Thời Lý Nam Đế, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Huế thực hiện, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa Huế 1999.
3. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử luận, Nhà Xuất Bản Văn Học - Hà Nội 1979
4. Văn hóa Phật giáo .Số 62.1.8.2008
5. Minh Chi, Quan Hệ Giữa Nho Giáo Và Phật Giáo Ở Việt Nam 6. Thích Phước Đạt, Bài viết: Phật giáo Việt Nam tiếp biến và hội nhập, Nguyệt san Giáo Ngộ, số 163, tháng 10 năm 2009.
7. Thích Phước Đạt, Bài viết: Quan điểm hiếu hạnh ở thời Phật giáo du nhập
8. Thích Phước Đạt, Bài viết: Hiếu hạnh từ điểm nhìn văn hóa Nho giáo và Phật giáo.
9. Nguyễn Đức Cung, Bài viết: Chữ hiếu trong truyền thống văn hóa Việt Nam, http://www.khaohoc.net/, ngày 01 tháng 11 năm 2007.

[1] Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 716 Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn.
[2] Lê Mạnh Thác, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Từ Khởi Nguyên Ðến Thời Lý Nam Đế, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Huế thực hiện, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa Huế 1999.
[3] Meou-tséu ou Les Doutes Levés. Toung Pao, 1918-1919
[4] Mâu có thể là lấy từ Mâu Ni, cũng như Thích là lấy từ Thích Ca, và Mâu Tử có thể là một cái tên có nghĩa tương đương với Thích Tử, Ðiều Ngự Tử hay Phật Tử. Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, chương 2
[5] Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 716 Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn.
[6] Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 716 Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn.

[7] Đại Tạng Kinh 152 tờ 8b7
[8] Sđd
[9] Dẫn lại theo Văn hóa Phật giáo .Số 62.1.8.2008, tr.5

Read more...

Đợi chờ - Thanh Lam

Một cõi đi về

Một mình - Thanh Tùng

Ôi quê tôi - Vũ Xuân Bắc

Đóa hoa vô thường (1)

Điệu buồn phương Nam

Mưa bay tháp cổ - Tùng Dương

Đóa hoa vô thường (2)

Như cánh vạc bay






  © Blogger templates ProBlogger Template by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP