Xin hân hạnh giới thiệu đến vị quý 80 mã số nhạc chờ của Pháp Như trên Mobifone: 1 Ân cha mẹ như biển trời 50611055, 2 Ân cha mẹ như biển trời 5166917, 3 Bông hồng cài áo 50611062, 4 Bông hồng cài áo 5166918, 5 Bông hồng dâng cha 50611064, 6 Bông hồng dâng cha 5166919, 7 Bước chân Yên Tử 50611067, 8 Bước chân Yên Tử 5166920, 9 Chùa tôi 50611072, 10 Chùa tôi 5166921, 11 Còn thương rau đắng mọc sau hè 50611076, 12 Còn thương rau đắng mọc sau hè 5166922, 13 Đêm Pháp Hoa 50611080, 14 Đêm Pháp Hoa 5166923, 15 Diệu pháp 50611081, 16 Diệu pháp 5166924, 17 Diệu pháp âm 5166925, 18 Đời Tăng lữ 50611087, 19 Đời Tăng lữ 5166926, 20 Em đi trên cỏ non 50611089, 21 Em đi trên cỏ non 5166927, 22 Gánh hàng rong 50611092, 23 Gánh hàng rong 5166928, 24 Giấc mơ cánh cò 50611095, 25 Giấc mơ cánh cò 5166929, 26 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 50611097, 27 Hoa kinh Bồ tát Khiêm Từ 5166930, 28 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 50611098, 29 Kinh cầu Mẹ Từ Bi 5166931, 30 Làng tôi 50611129, 31 Làng tôi 5166932, 32 Lạy Phật Quan Âm 50611128, 33 Lạy Phật Quân Âm 5166933, 34 Lời sám nguyện 50611126, 35 Lời sám nguyện 5166934, 36 Lời tạm biệt của người tìm đạo 50611124, 37 Lời tạm biệt của người tìm đạo 5166935, 38 Lòng mẹ 50611123, 39 Lòng mẹ 5166936, 40 Lục cúng dường 50611121, 41 Lục cúng dường 5166937, 42 Mẹ là Phật 50611119, 43 Mẹ là Phật 5166938, 44 Mẹ là vầng trăng 50611118, 45 Mẹ là vầng trăng 5166939, 46 Mẹ tôi 50611114, 47 Mẹ tôi 5166940, 48 Mẹ Từ Bi 50611110, 49 Mẹ Từ Bi 5166941, 50 Mùa duyên 50611107, 51 Mùa duyên 5166942, 52 Ngọn lửa tuổi hai 50611105, 53 Ngọn lửa tuổi hai 5166943, 54 Ống thổi lửa 50611103, 55 Ống thổi lửa 5166944, 56 Phật Hoàng Trần Nhân Tôn 50611100, 57 Phật là ánh từ quang 50611096, 58 Phật về 50611093, 59 Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật 50611091, 60 Tạ ơn mẹ 50611090, 61 Tâm xuân 50611084, 62 Tâm xuân 5166945, 63 Thì thầm với nắng 50611083, 64 Thì thầm với nắng 5166946, 65 Thiền sư Chùa Đậu 50611078, 66 Thiền sư Chùa Đậu 5166947, 67 Thờ kính mẹ cha 50611075, 68 Thờ kinh mẹ cha 5166948, 69 Tiếp bước dấu chân xưa 50611073, 70 Tiếp bước dấu chân xưa 5166949, 71 Trăng tròn tháng tư 50611071, 72 Trăng tròn tháng tư 5166950, 73 Trở lại Bạc Liêu 50611070, 74 Trở lại Bạc Liêu 5166951, 75 Vì có Phật 50611069, 76 Ví có Phật 5166952, 77 Vu Lan nhớ mẹ 50611066, 78 Vu Lan nhớ mẹ 5166953, 79 Xuân trong cửa thiền 50611063, 80 Xuân trong cửa thiền 5166954, * Để chọn bài hát làm nhạc chờ trên mạng Mobifone:Soạn tin nhắn theo nội dung như sau: 1. Đăng ký sử dụng, soạn tin: DK gởi 92242. Cài đặt bài hát- Cài đặt bài hát: CHON masobaihat gởi 9224 Ví dụ: để tải bài Đời Tăng lữ bạn chỉ cần soạn: CHON 50611087 gởi 9224 - Gửi tặng: TANG mabaihat sodienthoainhan gởi 9224 Ví dụ: để tặng bài Đời Tăng lữ cho bạn bè bạn chỉ cần soạn: TANG 50611087 số điện thoại người nhận gởi 9224 Để biết thêm chi tiết xin vui lòng truy cập: http://www.mobifone.com.vn

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

Vĩnh Tràng - ngôi chùa nổi tiếng miền Tây Nam Bộ

DẪN NHẬP
Theo đoàn thực tập môn Du lịch danh lam cổ tự của khoa Phật giáo Việt Nam thuộc Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đến chùa Vĩnh Tràng vào một buổi sáng ngày 31 tháng 10 năm 2010. Cũng như bao sinh viên khác, tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của ngôi chùa này. Dù đã có lần tôi nghe các bạn thuyết trình về bộ tượng Thập bát La Hán bằng gỗ của chùa Vĩnh Tràng mà những người nghệ nhân Nam bộ đã tạc vào thế kỷ XIX nhưng tôi cũng không ấn tượng lắm. Cho đến hôm nay, khi đứng trước ngôi chùa này tôi mới cảm phục trí tuệ tài hoa và đôi tay khéo léo của người xưa đã để lại một công trình có một không hai trên dãi đất hình chữ S. Lúc đó tôi cũng chưa có ý tưởng sẽ làm bài về ngôi chùa này mà đang hướng đến một ngôi chùa khác. Tôi chụp lại một vài tấm ảnh để làm kỷ niệm cho một chuyến đi như bao nhiêu người đến đây. Khi xem lại những bức ảnh của mình vừa chụp lại tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của ngôi chùa này trong ảnh.
Khác với những ngôi chùa của Sài Gòn nằm len lỏi giữa nhà cửa heo hút với không gian chật chội thì nơi đây có khoảng không gian trống và những công trình với kiến trúc lạ mắt làm cho ai đến đây cũng có cảm giác muốn tìm hiểu nó hơn. Tôi tìm đọc những tài liệu về ngôi chùa này và thấy thích thú về nó. Chính vì vậy mà tôi cùng với một huynh đệ nữa đã trở lại nơi đây vào ngày 26 tháng 11 năm 2010 để tìm hiểu về “Ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây” này. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy nơi đây cùng với sự tham khảo của những bài viết trên các trang báo mạng tôi cũng đã hoàn thành bài viết này. Do thiếu kiến thức về kiến trúc cũng như sự am hiểu về lịch sử nên không tránh khỏi những sơ sót trong bài viết này. Với vốn kiến thức ít ỏi của mình, tôi cũng mạo muội viết về ngôi chùa này với đề tài “Vĩnh Tràng – ngôi chùa nổi tiếng miền Tây Nam bộ” thông qua những lời hướng dẫn của quý thầy trong chùa cùng những tài liệu khác để làm nổi bật vẻ đẹp của ngôi chùa nổi tiếng này.
NỘI DUNG
1. TỔNG QUÁT VỀ NGÔI CHÙA VĨNH TRÀNG
1.1. Vị trí địa lý
Chùa Vĩnh Tràng là một trong những ngôi chùa cổ ở miền Tây Nam bộ. Chùa nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Mỹ Tho, ven tỉnh lộ 22, được tọa lạc trên một mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 ha, đường Nguyễn Trung Trực, thuộc địa phận ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Điện thoại liên lạc: 0733873427 – 0733876341.
Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông, là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế - Trí Huệ với số lượng Tăng chúng tu học hiện nay là chín vị dưới sự hướng dẫn của thượng tọa Thích Huệ Minh trưởng ban Trị sự tỉnh Tiền Giang và cũng là người đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Quản trị chùa.
Chùa được Nhà nước công nhận di tích văn hóa cấp quốc gia từ ngày 06 tháng 12 năm 1989. Hiện là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và chùa đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua của du khách khi đến tham quan thành phố Mỹ Tho.
1.2. Lịch sử hình thành và xây dựng
Ban đầu chùa Vĩnh Trường mới chỉ là một cái am nhỏ, mái lá vách đất, quang cảnh hoang vu, do ông bà Huyện Bùi Công Đạt làm quan dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840) tạo dựng. Sau khi hưu trí, ông bà về đây cất am để tu hành nên nhân dân trong vùng quen gọi là chùa ông Huyện. Sau đó, ông bà mời Đại sư Huệ Đăng về trụ trì chùa và dạy chữ nghĩa cho con. Năm 1849, hòa thượng Huệ Đăng ở chùa Giác Lâm (Gia Định) về trụ trì và khởi tạo xây chùa, ngoài việc lo kinh kệ, ngài Huệ Đăng còn gánh đất đắp nền cùng với nhiều đạo hữu đến giúp. Ông đặt tên là chùa Vĩnh Trường với ngụ ý ước cho chùa được:
永久對天河
長存齊天地
"Vĩnh cửu đối sơn hà,
trường tồn tề thiên địa".
Qua thời gian người dân vùng lân cận đến nay vẫn quen gọi là chùa “Vĩnh Tràng”. Nhà thơ Xuân Thủy sau một lần đến thăm đã tặng chùa bốn câu thơ sau:
"Đức Phật giàu tình thương
Nên chùa tên Vĩnh Tràng
Nhà sư vốn yêu nước
Lòng như dòng Tiền Giang".

1.3. Các đời truyền thừa
Ngài Huệ Đăng được xem là vị tổ khai sơn ngôi chùa này. Năm 1864, ngài mất trong lúc công việc chưa hoàn tất, vì ngài không có đệ tử kế truyền nên bổn đạo thỉnh ông Minh Đề làm trụ trì.
Năm 1878, hòa thượng Minh Đề tịch hòa thượng Quản Ân thay thế được một thời gian rồi đi du học ở Thái Lan. Bổn đạo thỉnh sư Minh Truyện về chủ trì được một thời gian rồi cũng chuyển đi nơi khác. Vì chùa không có người chủ trì nên phật tử trong bổn đạo họp nhau lại bàn bạc và nhất trí đến hội ý hòa thượng Tổ Từ Trung, hoà thượng Trung (chùa Bửu Lâm, Mỹ Tho) đến thỉnh hòa thượng Trà Chánh Hậu (hiệu là Quảng Ân) về trụ trì, tiếp tục công việc của hòa thượng Huệ Đăng.
Từ năm 1907 đến năm 1911, hòa thượng Trà Chánh Hậu đã khuyến giáo tín đồ góp công của đại tùng tu lại ngôi chùa, ông mời điêu khắc gia Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng thờ trong chùa. Tầng một của ngôi chùa được xây dựng với sự pha hòa cả nét kiến trúc Đông Tây đã tạo cho ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất so với các ngôi chùa khác của Việt Nam.
Hòa thượng Lê Ngọc Xuyên, pháp danh Tục Thông, tự Tâm Liễu, pháp hiệu An Lạc là đệ tử kế thế của hòa thượng Quảng Ân lên thay. Đến năm 1930, ông lo chỉnh trang nóc chùa và mặt dựng bốn phía chùa. Cuối 1930, chùa được hoàn tất thêm ba gian và tầng hai của gian chánh điện. Năm 1933, ông cho xây hai cổng Tam quan và xây rào xung quanh. Ngày 22-6-1939 hòa thượng qua đời, thọ 67 tuổi.
Thượng tọa Thích Trí Long là đệ tử được hòa thượng Lê Ngọc Xuyên di chúc làm trụ trì nhưng vì Thích Trí Long mới 19 tuổi nên thầy yết ma Tục Chơn tự Tâm Giác, là anh ruột của hòa thượng Tục Thông thay quyền trụ trì và làm vị sư bảo hộ. Ngày 25-3-1954 thầy Yết ma Tục Chơn mất (thọ 94 tuổi).
Hoà thượng Trí Long, đời 41, trụ trì chùa từ năm 1955 đến năm 1987 thì viên tịch. Do không có người thừa kế nên nhà nước giao cho Tỉnh hội Phật giáo quản lý và đặt văn phòng làm việc của Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang. Từ năm 1987, Tỉnh hội bầu Ban trụ trì theo nhiệm kỳ. Các vị trụ trì qua các nhiệm kỳ là: hoà thượng Thích Bửu Thông, thượng tọa Thích Hoằng Từ, hoà thượng Thích Hoằng Thông, hoà thượng Thích Nhựt Long và hiện nay là thượng tọa Thích Huệ Minh.
1.4. Kiến trúc
Chùa Vĩnh Tràng được xây cất do công trình kiến trúc của nhiều người, trong nhiều năm, là một chùa lớn, được kiến trúc khá tinh vi, đa dạng theo lối kiến trúc tổng hợp Á - Âu (Pháp, La Mã, Thái, Miên, Chàm). Tuy nhiên, chùa vẫn mang đậm nét lối kiến trúc điêu khắc truyền thống Việt Nam. Chùa được kiến trúc theo dạng chữ Quốc, gồm bốn gian nối tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ và nhà hậu) rộng 14.000 m², dài 70 m, rộng 20 m, xây bằng xi măng và gỗ quý, nền đúc cao 1m, xung quanh xây tường vững chắc.
Trước chùa có hai cổng tam quan kiểu võ khá quy mô, tráng lệ, xây theo kiểu cổ lầu, do những nghệ nhân xứ Huế thực hiện vào năm 1933, với sự tài trợ về kinh phí của hai ông Huỳnh Trí Phú và Lý Văn Quang. Nét độc đáo của cổng tam quan này thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành sứ có giá trị (sứ Trung Hoa, Việt Nam) minh họa lịch sử nhà Phật, in hình long, lân, quy, phượng, canh, mục, ngư, tiều, mấy câu đối cũng cẩn bằng miếng chai nổi mầu sắc óng ánh trông rất đẹp. Trong cổ lầu đặt tượng chân dung hoà thượng Chánh Hậu và hoà thượng Minh Đàng do nhà điêu khắc Nguyễn Phi Hoanh thực hiện. Tháng 10 năm 2005 (tức tháng 9 năm Ất Dậu DL.2549) Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang quyết định thay đổi hai bức tượng này và đưa vào nhà Tổ, thay vào hai pho tượng Phật. Tượng Phật Di Đà thay thế tượng Hòa thượng Chánh Hậu, tượng Phật Thích Ca thay thế tượng Hòa thượng Minh Đàn. Trên cổng phía đông có bức hoành phi được điêu khắc tinh xảo với bốn chữ “Tịnh độ huyền môn” và hai câu đối ghi nhớ công lao ngài Chánh Hậu: “Chánh đạo vĩnh khai truyền thế thế hòa quang triêm pháp vũ. Hậu ân trường phổ độ niên niên thượng ngưỡng nhuận từ phong.”. Người viết tạm dịch là: Chánh đạo vĩnh cữu khai truyền đời đời ngời sáng ngấm mưa pháp. Ân dày trường tồn phổ độ năm năm ngữa mặt thắm gió từ. Cổng phía tây cũng có bức hoành phi được cẩn sành sứ với bốn chữ “Phương tiện pháp môn” và hai câu đối: “An tâm hòa bỉnh công tâm tự tổ thiệu tông tăng vĩnh hữu. Lạc đạo thượng hành chơn đạo độ sanh tế chúng ích trường lưu.” Trên cổ lầu còn nhiều câu đối khác cũng được trạm trổ công phu. Cổng giữa của tam quan làm bằng sắt theo kiểu Pháp tạo nên một kiến trúc đa màu sắc và nhiều góc cạnh. Khác với các ngôi chùa khác ở Việt Nam cổng tam quan giữa thường lớn và đồ sộ hơn hai cổng bên nhưng cổng này rất nhỏ và chỉ mở vào những dịp lễ lớn của chùa và giáo hội nên ít được chú ý đến.
Qua thời gian, hai cổng chùa nặng hàng chục tấn đã bị lún và nghiêng về phía bên trong hơn 150, có nguy cơ ngã đổ. Năm 2004, Ban trị sự chùa Vĩnh Tràng đã mời “thần đèn” Nguyễn Thành Lũy ở huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang) đến "cứu" cổng chùa. Công trình gia cố cổng khởi công ngày 11-03-2004 và hoàn thành vào cuối năm 2004.
Điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất khi đến đây là kiến trúc của ngôi chùa này. Nó không giống như những ngôi chùa Việt Nam với mái uốn cong với những trạm khắc long phụng như ta thường gặp mà mang một nét rất riêng biệt. Mới nhìn từ xa tôi cứ ngỡ đây là một cái đền giống Ăng-co-vát của Cam-pu-chia, nhưng trông nó cũng giống một ngôi nhà cổ của Pháp hoặc một lâu dài của Ý nào đó. Theo lời truyền tụng của người dân đại phương thì hòa thượng Minh Đàng và ông Huỳnh Trí Phú đã đến đất nước Chùa Tháp nên đã tiếp thu được nét độc đáo ở nơi đây mà thiết kế xây dựng chùa Vĩnh Tràng. Chính vì vậy mà mặt tiền chùa Vĩnh Tràng lại mang một kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Ở đây có những hoa văn theo kiểu thời Phục Hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt của Pháp, gạch men của Nhật Bản... chữ Hán viết theo lối chữ triện cổ kính, còn chữ quốc ngữ lại viết theo lối chữ Gô-tích.
Phía sau chánh điện là nhà tổ được nối với hàng lang đông và tây liền nhau theo kiểu Trung Quốc nhưng vẫn giữ được phong cách của Việt Nam. Giữa không gian trống của phía sau chánh điện và nhà tổ còn có một hòn non bộ phác họa cảnh nứi non chùa tháp, thiên nhiên hữu tình mang đậm bản sắc Việt Nam. Điều này chứng tỏ ông cha xưa của ta thích sống gần gũi với thiên nhiên nên đã được thiên nhiên vào tận nhà. Từ phía trước nhà tổ nhìn về phía sau chánh điện ta sẽ thấy một lối kiến trúc mang đậm nét Rôma châu Âu với những cột uy nghi với những vòm cong và hoa văn của Pháp đầy màu sắc sặc sở với chất liệu bằng bê tông nhưng vẫn nhẹ nhàng uyển chuyển tạo nên một kiến trúc đa dạng.
Nhà hậu tổ là nơi thờ chư vị tiền bối và cũng là nơi trai đường, phòng tiếp khách và nhà Tăng chúng ở hai bên. Có kiến trúc cổ Việt Nam với cột kèo bằng gỗ và mái ngói. Nơi đây có nhiều bàn thờ Phật, Tổ, hương cốt. Trên nhà Tăng có treo thanh quy và những lời giáo huấn của các đại sư.
Giảng đường Huệ Đăng. Ảnh: Pháp Như
Mặt sau nhà hậu tổ và mặt trước của nhà tịnh trù lại có kiến trúc mái ngói bằng gạch của những ngôi nhà cổ Việt Nam nhưng với vòm cong mang đậm nét kiến trúc của Pháp. Đây là nét độc đáo làm cho ngôi chùa dù mang kiến trúc kết hợp Đông Tây nhưng vẫn rất Việt Nam. Sau cổng tam quan là một khoảng sân rộng trồng
hoa kiểng, ao sen, hồ nước nhỏ. Giữa sân có tượng Phật Thích Ca tham thiền dưới cội bồ đề được xây dựng vào năm 1995, lúc đầu tượng màu trắng nhưng đến năm 2009 thì được đắp lại màu vàng. Nhà che của Phật bên dưới cây bồ đề được xây dựng vào năm 2009 với chất liệu bê tông. Phía bên phải công phía tây còn có tượng đài Bồ tát Quan Thế Âm lộ thiên. Đi thẳng vào còn có quầy hàng lưu niệm. Ở đây có các mặt hàng làm từ chất liệu dừa mang đậm phong cách của miền Tây Nam bộ. Trong khuôn viên phía trái ngôi chánh điện còn có hai vườn tháp với nhiều ngôi tháp cổ của các vị hoà thượng tiền bối.
Kế tiếp là hòn non bộ trước vườn tháp tạo nên một không cảnh hài hòa giữa thiên nhân và nhân tạo. Phía sau bên phải chánh điện có phòng phát hành kinh sách với nhiều kinh sách và vật phẩm của Phật giáo rất đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung . Cách nhau một hồ nước nhỏ là giảng đường Huệ Đăng bên phải chánh điện là giảng đường Chánh Hậu dùng để thuyết giảng pháp khi an cư kiết hạ và tổ chức đại giới đàn của tỉnh hội.
1.5. Cách bài trí các điện thờ trong chánh điện
Chùa còn bảo tồn nhiều tượng cổ, hơn 60 tượng phật đúc bằng gỗ, đồng, đất nung, xi măng, đa số tượng bằng gỗ, tất cả được thếp vàng óng ánh và được tạo vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Chánh điện được bài trí trang nghiêm, với vẻ trầm mặc quyện tỏa khói hương tạo nên sự thiêng liêng mầu nhiệm. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng như Phật Trung Tôn được làm bằng gỗ mít (có người cho rằng đó là tượng Đức Phật Thích Ca nhưng trên hòa quang lại có ghi dòng chữ Nam mô A Di Đà Phật) được ngự giữa chánh điện, đây là tượng Phật chính của ngôi chùa, hai bên Phật Trung Tôn còn có tượng hai vị Hộ Pháp như để bảo vệ chánh pháp. Lớp dưới có bộ tượng Di Đà Tam tôn (Đức Phật A Di Đà cao 98cm, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí cao 93cm ), đây là bộ tượng cổ nhất ở chùa được đức bằng đồng vào giữa thế kỷ XIX. Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ lâu. Sau này, hoà thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Lớp dưới có tượng Phật đản sanh, tượng Di Lặc và tượng Thất Phật Dược Sư được tôn trí ở án giữa.
Bên trái án giữa điện Phật còn có tượng chân dung hoà thượng Chánh Hậu và bên phải là tượng chân dung của hoà thượng Minh Đàng như đang đứng chầu Phật. Phía bên trái điện Phật là án thờ ngài Tiêu Diện cầm cờ đối xứng với ngài Tiêu Diện là án thờ Hộ Pháp tay phải chống chày kim cang.
Điều đáng chú ý nhất nhất là bộ tượng Thập Bát La Hán với sự bày trí như sau: chín vị La Hán bên trái đối xứng với chín vị La Hán bên phải được chia thành sáu án thờ, mỗi bên ba án: án thứ nhất có hai vị, án thứ hai có ba vị và án thứ tư có bốn vị được đặt hai bên điện Phật. Đây là những tác phẩm chạm khắc bằng gỗ độc đáo, mà một số nghệ nhân ở Nam bộ đã tạo vào năm 1907, mỗi tượng cao khoảng 0,8 m, bề ngang gối 0,58 m được, mỗi vị La Hán có bửu bối riêng của mình tượng trưng cho các giác quan mà giáo lý gọi là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; ở ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Các tượng La Hán này được tạo hình cân đối, sinh động, cưỡi trên những con thú như: trâu, bò, ngựa, lạc đà, hà mã, tê giác…
Phía bên trái góc cuối chánh điện còn có một án thờ mẫu với hai người hầu, đây giống phong cách thờ của miền Bắc Việt Nam. Ở đây Thập Điện Minh Vương không bày trí hai bên tả hữu mỗi bên năm vị của chánh điện như các chùa thường gặp mà bố trí ba án khác nhau.
Phía trái chánh điện về phía sau kế bên trái án mẫu có một án thờ năm vị Minh Vương. Phía bên phải chánh điện về phía sau kế bên phải án thờ Ngọc Hoàng có án thờ ba vị Minh Vương. Tượng Ngọc Hoàng ơ đây cũng bằng đồng to bằng người thật, không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên như các chùa khác; thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.
Án thờ hậu tổ sau điện Phật là án thờ Đạt Ma sư tổ, bồ tát Quán Thế Âm và hai vị Minh Vương, tượng nữa. Bên cạnh đó nổi bậc nhất là tượng Địa Tạng cưỡi đề thính, đây là pho tượng rất độc đáo cùng thời với bộ tượng La Hán và cũng được chạm khắc công phu.
Phía sau chánh điện có có án thờ ông Bùi Công Đạt cùng gia quyến.
Nhà tổ phía trước có năm bàn thờ: tính từ trái sang có bàn thờ Quan Âm, bàn thờ Thế Chí, chính giữa thờ Bồ tát Chuẩn Đề và Bồ tát Địa Tạng, tiếp đến là bàn thờ Bồ tát Quan Âm và bàn thờ Bồ Tát Quan Âm cùng đồng nam đồng nữ.
Phía trong nhà tổ là án thờ chư vị Hòa thượng tiền bối khai sơn tạo tự với nhiều bài vị. Trên là tượng của hòa thượng Huệ Đăng, bên trái là tượng của Hòa thượng Chánh Hậu và bên phải là tượng của ngài Minh Đàng. Phía bên trái án thờ chư vị hòa thượng khai sơn là án thờ Ưu Bà Di và bên phải là án thờ Ưu Bà Tắc.
Phía sau án thờ tổ là Bát Nhã đường thờ Giám Trai Bồ tát và một số vị Bồ tát khác. Bên trái Bát Nhã đường thờ cốt của người nữ và bên trái thờ cốt của người nam.
1.6. Biển, bảng, hoành phi, câu đối
Bước vào từng gian nhà, ta sẽ thấy toát lên một màu vàng rực của tượng Phật, hoành phi, câu đối, bao lam được chạm khắc tinh xảo mang dáng vẻ rất cổ kính thời vua chúa Việt Nam. Đáng chú ý hơn cả là những đôi long trụ trong gian chính điện, đó là những cây cột tròn to, bằng gỗ quý được chạm khắc tinh xảo uốn lượn tạo nên vẻ sống động cho ngôi chùa.
Ngoài ra trong chùa hiện nay còn hơn 20 bức tranh sơn thủy rất giá trị. Những bức tranh này được cư sĩ Long Giang vẽ vào năm 1904, tuy ảnh hưởng tranh vẽ của Trung Hoa nhưng lại mang đậm nét dân gian Việt Nam với những hình ảnh "Mai, lan, cúc, trúc" tạo nên phong cảnh Việt Nam rất hữu tình. Cho đến bây giờ những tác phẩm đó được giữ nguyên vẹn dù qua biết bao nhiêu thay đổi của thời gian của lịch sử có thay thăng trầm đó là do sự kế thừa gìn giữ của chư Tăng và bổn đạo ở đây.
Điều đáng chú ý là những bức hoành phi, câu đối trong chùa được điêu khắc chữ nổi thếp vàng. Tiền đường có bột bức hoành phi chữ "Hoàng kim bửu điện" được khắc từ 1851 đến nay vẫn còn khá đẹp và hai cặp câu đối. Trong chánh điện có bốn bức hoành phi, một bức được chạm khắc bằng gỗ với ba chữ “Vĩnh Trường tự”, được đặt ở giữa chánh điện; một bức được chạm khắc bằng sơn mài cẩn xà cừ ghi: “Đại hùng bữu điện” hai bức còn lại được chạm khắc bằng gỗ ghi: “Pháp luân thường chuyển”, “Thường đạo hà xương” và bốn cặp câu đối. Trên điện Phật có một bộ bao lam trạm trổ công phu và có ghi “Vô lượng thọ” ở phía bên trái và “Vô lượng quang” phía bên phải. Sau chánh điện cũng có một bức hoành phi ghi “Vĩnh Trường tự” một bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia do bộ văn hóa cấp và ba cặp câu đối. Hành lang phía tây sau chánh điện nối liền nhà tổ cũng có hai cặp câu đối và hành lang phía đông cũng có hai cặp câu đối.
Nhà tổ mặt trước có năm biển ghi nhận công đức của thiện nam tín nữ góp của xây dựng chùa được ghi bằng bằng chữ Hán với chất liệu gỗ sơn son và còn tôn trí mười cặp câu đối theo ba hàng: hành thứ nhất có bốn cặp, hàng thứ hai có bốn cặp và hàng thứ ba có hai cặp. Nhà tổ phía sau có bức hoành phi ghi “Bát Nhã đường”, một cặp câu đối và những hoa văn chạm khắc rồng quanh cột rất sắc xảo. Trong khuôn viên chùa còn có nhiều cây cảnh, hồ nước và hòn non bộ tô điểm thêm cảnh đẹp nơi đây và tạo nên một phong cảnh trầm mặc yên tỉnh làm cho du khách có cảm giác thư thái, nhẹ nhàng mỗi khi đến đây chiếm bái.
1.7. Tháp mộ của các vị trụ trì và chư Tăng Ni đã qua đời
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử những ngôi tháp cổ ở đây cũng in đậm dấu thời gian tạo nên vẻ trầm mặc. Phải nói rằng vườn tháp của chùa Vĩnh Tràng cũng khá đẹp với nét cổ kính của nó. Trong chùa có hai vườn tháp với những kiến trúc mộ tháp riêng biệt nhưng vẫn hài hòa với không gian của chùa.
Vườn tháp phía bên phải trước chánh điện trước có ba ngôi tháp. Tháp cao nhất của Hòa thượng Huệ Đăng, kế bên là tháp của Hòa thượng Pháp Tràng và kế tiếp nữa là tháp của Hòa thượng Trí Thanh. Mỗi tháp mang một dáng vẻ và lối kiến trúc khác nhau những vẫn tạo nên sự hài hòa khi đứng cạnh nhau đó cũng là nét riêng của đệ tử Phật dù có khác biệt đi nữa vẫn đồng một thể là con nhà Phật. Vườn tháp phía trái cuối hàng rào chùa là một vườn tháp rất đẹp mang đậm nét cổ kính. Phía trước ngôi mộ của ông bà Huyện Bùi Công Đạt là người đã tạo lập am tu hành ở đây là tháp của Hòa thượng Minh Đàng. Ngôi tháp của Hòa thượng Chánh Hậu, bằng đá trắng được xây dựng gần giảng đường Huệ Đăng. Bên cạnh những ngôi tháp nhỏ của gia quyến ông Bùi Công Đạt và con cháu của Hòa thượng Huệ Đăng còn có một số tháp của chư Tăng và ngôi tháp của một vị Tỳ kheo Ni. Nhìn chung vườn tháp ở đây có một vẻ đẹp trầm mặc tạo nên một không gian thiêng liêng nơi chốn giá làm này.
1.8. Các tự khí, pháp khí trong chùa
Hiện vật còn lại trong chùa này phải kể đến là Đại Hồng Chung mang tên Pháp Bảo Chuông cao 120cm, nặng khoảng 150 kg được đúc giữa tháng 5 năm 1854, dưới thời vua Tự Đức, trên đó khắc chữ "Vĩnh Trường Tự". Hiện nay Pháp Bảo Chuông không sử dụng được, bị hỏng do nằm lâu dưới nước sau thời gian thất lạc. Rất tiếc người viết chưa tận mắt nhìn thấy đại hồng chung và chưa chụp lại hình ảnh.
Đại hồng chung mới của chùa đúc vào năm 1992, được đúc tại Huế chuyển vào đầy, cao 1m2, năng 500 kg, được đặt ở hậu đường phía bên phải sau chánh điện. Phía bên trái đối xứng với đại hồng chung là đại cổ pháp có khắc bốn chữ: “Vĩnh Trường pháp cổ” được tạo tác vào tháng ba năm Giáp Tuất với màu son đỏ khá đẹp.
Điểm nổi bật ở ngôi chùa này còn lưu giữ nhiều bao lam với những chạm trổ rất tinh xảo. Có bảy bộ bao lam chính cùng nhiều bao lam phụ nhưng đặc sắc nhất là bộ bao lam bát tiên cưỡi thú được chạm trổ tinh xảo. Mỗi vị có một tư thế và cưỡi trên một con thú và cầm bữu bối khác nhau. Bên trái có bốn vị: tiểu đồng đứng trên lưng rùa với tay quẩy chiếc giỏ tre; một tiên sinh cưỡi ngựa với tay cầm ống bút, một thư sinh cưỡi hổ thổi sáo, một ông lão cưỡi đề thính vuốt râu. Bên phải có bốn vị: một vị trung niên cưỡi trâu tay cầm bình hồ lô, tiên nữ cưỡi hạc cầm hoa sen, một tiên sinh cưỡi lộc với tay vuốt râu và một ông lão kỳ lân với phất trần trên tay. Trên bao lam bát tiên còn có thần mặt trời cưỡi rồng và thần mặt trăng cưỡi phụng được chạm trổ rất công phu, do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907-1908.
Bằng những vật liệu gỗ, những nhà kiến trúc, nhà điêu khắc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chạm khắc những hình tượng mang mầu sắc tôn giáo huyền ảo, thoáng đượm vẻ vương quyền, qua đó ta thấy được những công trình điêu khắc của người xưa - qua những hình tượng sống động ấy ta thấy rõ cuộc sống vui tươi và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam - một dân tộc tự nhận mình là dòng dõi con rồng cháu tiên thể hiện qua chạm khắc hình tượng tứ linh.
1.9.Các ngày lễ chung của Phật giáo và lễ riêng của chùa
Lễ hội lớn nhất ở đây phải kể đến là lễ Phật Đản được tổ chứ hằng năm được tổ chức trong vòng một tuần từ ngày mồng 8 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch. Lễ chính được diễn ra tại lễ đài Phật Di Lặc từ khi công viên này khánh thành và đưa vào hoạt động.
Ngày rằm tháng bảy hằng năm nơi đây tổ chức cúng trai đàn cầu siêu bạc độ cho các vong linh, những chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, tổ chức đại lễ dâng y có thỉnh chư Tăng Ni trong và ngoài tỉnh đến dự.
Vào những ngày rằm tháng giêng và tháng mười âm lịch bà con và Phật tử đến đây chiêm bái rất đông. Từ khi có công viên Vĩnh Tràng với tôn tượng Đức Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam thì nơi đây là nơi diễn ra lễ hội vía Đức Phật A Di Đà vào ngày 17 tháng 11 âm lịch hằng năm của chư Tăng Ni Phật tử và bà con nơi đây.
Bên cạnh đó chùa còn có những ngày giỗ kỵ lớn như ngày 18 tháng giêng âm lịch hằng năm là giỗ của Hòa thượng Huệ Đăng, người đã khia sơn ngôi chùa này. Ngày 17 tháng 3 âm lịch là giỗ của Hòa thượng Pháp Tràng. Ngày mồng 1 tháng 5 âm lịch là giỗ của ngài Trí Long. Ngày 21 tháng 6 âm lịch là ngày giỗ hòa thượng Minh Đàng. Ngày 30 tháng 7 âm lịch là ngày giỗ Hòa thượng Chánh Hậu.
Đây cũng là nơi tổ chức an cư kiết hạ cho chư Tăng của tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang hằng năm cho hơn trăm vị. Chùa được giữ hai kỷ lục của Việt Nam là “Ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây”, thời điểm xác lập kỷ lục là ngày 31 tháng 5 năm 2007 do Tổng giám đốc Vietbooks Lê Trần Trường An ký và kỷ lục thứ hai là: “Tượng Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam” thời điểm xác lập kỷ lục vào năm 2007.
1.10. Tượng Phật A Di Đà trong công viên Vĩnh Tràng
Vào ngày 14.1.2008 (nhằm ngày 8 tháng 12 lễ thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), ngôi chùa cổ Vĩnh Tràng nổi tiếng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã khánh thành tượng Phật Di Đà cao 18m và công viên chùa Vĩnh Tràng. Dự án được khởi công xây dựng vào 7/3/2007 (nhằm ngày 19 tháng giêng Đinh Hợi), hơn một năm mới hoàn thành một cách mỹ mãn do nhóm thợ và họa sĩ kiến trúc sư Thụy Lam thiết kế với sự khởi xướng của Thượng tọa Thích Huệ Minh.
Sau khi thành phố Mỹ Tho được nâng cấp lên đô thị loại hai, với vẻ mỹ quan của ngôi chùa cổ nổi tiếng hơn 150 năm không thể để cảnh nhếch nhác với các cảnh lùm cây che khuất và mồ mả trước chùa nên Thượng tọa Thích Huệ Minh đã đề xuất và đứng ra chịu trách nhiệm với Ban trị sự tỉnh tạo lập một công viên trước chùa và chọn tượng Đức Phật A Di Đà để tôn trí nơi đây. Vì Đức Phật A Di Đà tượng trưng cho cõi Cực Lạc an vui để làm vơi bớt sự mệt nhọc của người dân sau những ngày lao động cực khổ không có thời gian đến chùa. Việc tạo dựng công viên A Di Đà trước chùa đã đáp ứng một phần nào về tín ngưỡng tâm linh của người dân. Có người đi làm qua công viên từ xa thấy tượng Phật cũng xá lễ khi không có thời gian đi chùa, có người muốn nghỉ ngơi thư giản sau những ngày mệt nhọc cũng vào ngồi dưới ghế đá dưới chân Đức Phật để thầm cầu nguyện cho cuộc sống bình yên. Pho tượng Phật A Di Đà cao tính từ chân đến đỉnh cao 18m, bệ cao 7m, nặng 150 tấn với chất liệu là bê tông cốt thép nguyên khối. Dù chất liệu bằng bê tông nhưng với màu sơn trắng pho tượng vẫn giữ được vẻ uy nghiêm và từ ái của Đức Phật. Pho tượng này đã được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận là tượng Phật A Di Đà lộ thiên cao nhất Việt Nam. Tượng Phật A Di Đà lộ thiên chùa chùa Vĩnh Tràng cao và bề thế hơn so với tượng Phật A Di Đà lộ thiên tại chùa Long Khánh (cao 17m và đứng trên bệ cao 5m) trên đường Trần Cao Vân, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đặc biệt hơn nữa là tượng được đặt trong một công viên mà người dân ở đây hay gọi là “Công viên Phật”
Công viên của chùa Vĩnh Tràng có hình tam giác được xây dựng trên diện tích 5.000m2, với các hạng mục như hệ thống hòn non bộ, hệ thống chiếu sáng, cây cảnh, ghế đá …Công trình có tổng kinh phí hơn 4,1 tỷ đồng với sự ủng hộ của chư Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước cùng sự hộ trì của người dân địa phương đã tạo nên một cảnh quan tôn nghiêm nơi này.
1.11. Tôn trí tượng Phật Di Lặc trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng
Vào ngày 22 tháng giêng năm 2010, chùa Vĩnh Tràng đã long trọng làm lễ khánh thành pho tượng Đức Phật Di Lặc với sự tham dự của chư tôn đức Tăng Ni, các cấp chính quyền, Phật tử và bà con gần xa. Tượng cao 20m, có chiều dài 27m, chiều rộng 18m, tổng trọng lượng nặng 250 tấn, được tạo hình ở tư thế an tọa rất gần gũi cuộc sống với nụ cười an nhiên và chiếc bụng to đặc trưng của ngài Di Lặc. Tượng được đặt trên một công trình giữa công viên trong tổng diện tích 5.000m2, được thi công trong khoảng thời gian 12 tháng bằng chất liệu bê tông cốt thép do nhà điêu khắc Thụy Lam thiết kế và được sự tham khảo, hướng dẫn của thượng tọa Thích Huệ Minh.
Công trình phía dưới tượng là khoảng rổng được bố trí một tầng triệt và một tầng lầu. Tầng triệt gồm phòng họp của Thường trực Ban trị sự tỉnh Tiền Giang, 4 phòng nghĩ tiện nghi dành cho khách Tăng từ xa đến chùa. Tầng lầu gồm: Bố tát đường cũng là chánh điện, là nơi dành cho chư Tăng của tỉnh Bố tát tụng giới vào những ngày 14 và 30 mỗi tháng. Phía trước công trình của tượng Phật Di Lặc là một quảng trường rộng với lễ đài là nơi diễn ra những buổi lễ lớn của Phật giáo cũng như của Ban trị sự Phật giáo tỉnh. Ngoài ra công trình còn những hạng mục hàng rào quanh công viên, hệ thống hồ nước phun, hệ thống thoát nước, con đường mới dẫn vào tôn tượng đức Di Lặc, hệ thống điện và đèn chiếu sáng… tổng chi phí trên 8 tỷ đồng với sự ủng hộ tịnh tài của chư tôn đức Tăng Ni, sự cúng dường của Phật tử cùng một số ân nhân cho Ban quản trị mượn dài hạn công trình mới được hoàn mãn. Đây là công trình của Giáo hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Việc khánh thành tượng Phật Di Lặc đã đáp ứng nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của Tăng Ni, Phật tử và bà con trong vùng đồng thời tạo nên cảnh quan tôn nghiêm góp phần tạo nên điểm du lịch hấp dẫn cuốn hút du khách trong và ngoài nước.
2. HOẠT ĐỘNG CỦA CHÙA VĨNH TRÀNG
2.1. Tu học
Như trên đã nói chùa theo hệ phái Bắc tông nên giờ tu học giống như các chùa Bắc tông khác. Ở đây cũng trì tụng Lăng Nghiêm vào buổi khuya, cúng ngọ, quả đường, công phu chiều cúng thí thực và Tịnh độ vào buổi tối. Buổi mỗi tối Phật tử đến tụng khá đông. Tăng chúng có nhiều vị học Trung cấp Phật học Tiền Giang, có vị đang là Tăng sinh học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Một số vị ở chùa làm công tác Phật sự và cho giáo hội.
2.2. Văn hóa, giáo dục
Phòng phát hành kinh sách cua chùa có nhiều kinh sách và văn hóa phẩm của Phật giáo như băng giảng, kinh nhạc, áo tràng, chuổi hạt, pháp khí… nhằm đáp ứng nhu cầu tu học cho Tăng Ni và Phật tử trong thành phố và các vùng lân cận. Vì nơi điểm tham quan du lịch của du khách trong nước và nước ngoài nên phòng phát hành kinh sách Phật giáo có rất nhiều sản phẩm phong phú.
2.3. Hoằng pháp
Nơi đây là điểm an cư kiết hạ cho hơn trăm chư Tăng thuộc tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang nên mỗi mùa an cư tỉnh hội có thỉnh nhiều vị giảng sư nổi tiếng trong tỉnh và trong nước về đây thuyết giảng cho chư Tăng và Phật tử. Nơi đây còn là nơi đặt văn phòng của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang nên mỗi ngày phải giải quyết rất nhiều Phật sự của tỉnh nhà. Bố tát đường dưới tôn tượng Bồ tát Di Lạc là nơi chư Tăng của tỉnh về đây để Bố tát trong hai ngày 14 tháng 30 hàng tháng. Hai giảng đường Huệ Đăng và Chánh Hậu là nơi tổ chức đại giới đàn của tỉnh hội dành cho chư Tăng trong và ngoài tỉnh.
2.4. Kinh tế
Vấn đề thu nhập của chùa dựa vào phần công đức của thập phương đến viếng chùa là chính. Bên cạnh đó còn có một số Phật tử là đệ tử của chùa có tín tâm đến lễ bái cúng dường. Phòng phát hành kinh sách cũng tạo nên thu nhập để lo hương khói trong chùa vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của mọi người. Bên cạnh đó quầy hàng lưu niệm cũng có tạo một phần thu nhập của chùa qua nhiều sản phẩm mang đậm bản sắc của miền quê Nam bộ giúp cho du khách vừa tham quan vừa có một món quà lưu niệm khi đến chốn này. Thật là tiếc nếu như trong các chương trình tham quan của miền Tây mà lại không ghé thăm chùa Vĩnh Tràng đó là một sự thiếu xót lớn. Đây là một nơi không thể thiếu trong chương trình du lịch về miền Tây sông nước.
2.5. Tiếp khách du lịch, khách hành hương
Giới thiệu về chùa có thầy Thích Đức Nhiên là tri khách của chùa tiếp đón khách và sẳn sàng trả lời những câu hỏi về lịch sử của chùa. Còn có một bản giới thiệu vắn tắt về lịch sử chùa để du khách tiện việc tham quan tìm hiểu. Sự tiếp đón cũng như phục vụ ở đây tốt, có quầy lưu niệm có bãi đậu xe trước chùa sau công viên Vĩnh Tràng. Trước chùa có Bồ Đề quán phục vụ các món chay cho khách thập hành hương.
Mỗi khi có đoàn tham quan nào đến chùa, nếu có báo trước thì Thượng tọa trụ trì đích thân hướng dẫn tham quan và thuyết minh về lịch sử hình thành chùa hoặc cử người trong chúng để hướng dẫn cho du khách.
Vấn đề an toàn của du khách được nâng cao hàng đầu vì có bảo vệ luôn luôn túc trực. Về hệ thống vệ sinh tương đối tốt, không có rác thải bừa bộn như những ngôi chùa du lịch khác.
Hệ thống cây xanh ở đây nhiều và mát mẻ bên cạnh những hòn non bộ và những hồ nước nhỏ tạo nên sự dễ chịu cho du khách sau khi lễ Phật và tham quan xong có thể ngồi trên những ghế đá đặt trong khuôn viên của chùa và công viên Vĩnh Tràng để nghỉ ngơi sau những ngày mệt mỏi với công việc mưu sinh.
3. ĐỀ XUẤT
Chùa là một điểm du lịch hành hương, điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng với kiến trúc độc đáo nên cần có một website để giới thiệu về chùa và những hoạt động của chùa để mọi người được tìm hiểu và cần có email để tiện việc liên hệ. Cần tập huấn giáo dục cho những Tăng Ni và Phật tử tại chùa nắm rõ về lịch sử của chùa cũng như ý nghĩa của từng pho tượng và các chi tiết về hoa văn điêu khắc để giới thiệu đến khách du lịch hành hương mỗi khi đến chùa.
Đây là điểm đến của rất nhiều đoàn khách nước ngoài nên cần có những Tăng Ni và Phật tử ở chùa biết tiếng Anh để giới thiệu với khách làm cho họ hiểu hơn về nét độc đáo của ngôi chùa.
Chùa cần có một tờ gấp thiết kế đẹp nói về lịch sử của chùa bằng song ngữ Việt – Anh để du khách trong nước và nước ngoài có thể tham khảo. Bên cạnh đó cần có thêm một bộ bưu ảnh của chùa để quảng bá với du khách thập phương.
KẾT LUẬN
Với kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây, chùa Vĩnh Tràng đã tạo nên một ấn tượng khó phai trong lòng du khách. Không những độc đáo về kiến trúc mà còn tinh tế trong phong cách. Nơi đây còn lưu giữ những bộ tượng cổ đặc sắc do những nghệ nhân miền Nam tạo tác bên cạnh đó còn có rất nhiều bao lam được chạm trổ công phu mang đậm bản sắc Việt. Cùng với những công trình của các bậc tiền bối để lại bên cạnh những công trình hiện đại của chùa đã tạo nên một kiến trúc đa dạng, phong phú.
Với sự có mặt của ngôi chùa nơi đây đã đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân cũng như với cảnh trí tôn nghiêm này đã tạo điều kiện cho người dân có nơi nghỉ ngơi thư giản sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 80km, Vĩnh Tràng được xem là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trúc đặc sắc của tỉnh Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua của những du khách trong nước cũng như nước ngoài khi có dịp đến tham quan thành phố Mỹ Tho. Hơn thế nữa Vĩnh Tràng còn là nơi nghiên cứu tìm hiểu của nhiều người khi đến tham quan ngôi chùa ấn tượng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Chùa Vĩnh Tràng, www.wikipedia.org.
2. Bảo Thiên, Công viên Phật giữa lòng thành phố, www.giacngo.vn, 04/01/2010.
3. Công Luận, Chùa Vĩnh Tràng khánh thành tượng Phật Di Lặc cao 20m, www.tiengiangtv.org, 24/01/2010.
4. Huỳnh Diệu, Tiền Giang – khánh thành công trình tượng Phật Di Lặc và công viên Vĩnh Tràng, www.giacngo.vn, 26/01/2010.
5. Lê Quang Huy, Đầu năm đi viếng chùa Vĩnh Tràng, www.phattuvietnam.net, 14/3/2009.
6. Trần Kiều Quang, Nét đẹp chùa Vĩnh Tràng, www.baohaugiang.com, 24/9/2008.
7. Sở văn hóa, thể thao và du lịch Tiền Giang, Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Vĩnh Tràng, www.blog.yume.vn.
8. Vân Trường, Một thần đèn cứu cổng chùa Vĩnh Tràng, www.vietbao.vn, 13/4/2004.
9. Vietbalo Tổng hợp, Chùa Vĩnh Tràng, www.vietbalo.vn.
10. Vietbooks, Ngôi chùa tôn trí pho tượng Phật A Di Đà cao nhất, www.kyluc.vn, 2/8/2010.







Bài và ảnh: Pháp Như

0 nhận xét:

Đợi chờ - Thanh Lam

Một cõi đi về

Một mình - Thanh Tùng

Ôi quê tôi - Vũ Xuân Bắc

Đóa hoa vô thường (1)

Điệu buồn phương Nam

Mưa bay tháp cổ - Tùng Dương

Đóa hoa vô thường (2)

Như cánh vạc bay






  © Blogger templates ProBlogger Template by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP